vanban.org

Bản án 26/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 05/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn L.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2021/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn L phạm tội: “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HS-PT
Ngày 21 tháng 4 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH V

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Thanh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành và ông Vũ Văn Mạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vtham gia phiên toà: Bà Mầu Mai Quyên – Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh V xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 16/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 2 năm 2022 đối với bị cáo Hoàng Văn L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2021/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P.

Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Văn L, sinh năm 1984 tại V; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã N, thành phố P, tỉnh V; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H và bà Nguyễn Thị L; vợ: Lý Thị A, con: có 02 lớn sinh 2006, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/9/2021, đến ngày 22/9/2021 áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại ở địa phương; (có mặt).

Trong vụ án này còn có 05 bị cáo khác không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P và Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố P, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 13/9/2021, Chu Quốc K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát BKS 88H1-328.12 đến nhà Nguyễn Văn H ở cùng thôn để chơi, tại đây K rủ H đánh bạc ăn tiền, H đồng ý. Tiếp đó K dùng điện thoại di động gọi điện cho Hoàng Văn L cũng ở cùng thôn đến nhà H để đánh bạc, L đồng ý và đi xe mô tô BKS 20L1- 0299, mang theo bộ bài tu lơ khơ đến nhà H. Khi đến nhà H thì L gọi điện thoại rủ Lê Văn M ở cùng thôn đến nhà H để đánh bạc ăn tiền thì M đồng ý. Sau đó có Ân Văn C đi cùng bạn là Trương Thị T ở B thị xã Phổ Y, tỉnh T đến nhà H chơi.

Tại nhà H, K rủ H, L, C đánh Liêng ăn tiền với mức cược tiền “Gà” là 20.000đồng, mức “Tố” thấp nhất là 20.000đồng và cao nhất là 100.000đồng, tất cả đều đồng ý. H chải chiếu xuống nền nhà phòng ngủ, L lấy bộ bài tú lơ khơ đã chuẩn bị từ trước ra để đánh bạc.

Khi đánh bạc thì H, L, C và K mỗi người bỏ ra chiếu số tiền là 20.000đồng để đánh bạc (gọi là tiền gà), tổng số tiền gà để ra chiếu là 80.000đồng, sau khi mỗi người được chia ba quân bài thì bắt đầu “tố” theo vòng tròn, thấp nhất là 20.000đồng, cao nhất là 100.000đồng, người “tố” sẽ để tiền ra chiếu, nếu người “tố” sau “tố” theo thì phải “tố” bằng người “tố” trước đó hoặc có thể hơn nhưng không quá 100.000đồng. Tất cả thống nhất tỷ lệ thắng thua như sau: Khi “tố” đến 100.000đồng thì sẽ lật 03 quân bài của mình rồi tính thắng thua, ai có 03 quân bài giống nhau (gọi là Sáp) được tính là người cao điểm nhất, tiếp đến là người có 03 quân bài liền kề nhau (gọi là Liêng), sau đó thì tính đến điểm của 03 quân bài cộng lại với nhau để tính thắng thua, ai cao điểm nhất sẽ được ăn toàn bộ tiền “gà” và tiền các đối tượng “tố” với nhau trong 1 ván.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì có Trần Văn T và Lê Văn M đều ở thôn T, xã N đến đánh bạc cùng K, H, L, C, với cách chơi và mức sát phạt như đã nêu trên. K, H, L, C, T, M đánh bạc đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 14/9/2021 thì K về trước, chỉ còn H, L, C, T, M đánh bạc đến 00 giờ 40 phút ngày 14/9/2021 thì bị phát hiện bắt quả tang.

Thu giữ tang vật gồm: Tiền VNĐ = 6.360.000đồng; 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh loại chiếu đôi đã cũ; Tạm giữ 04 xe mô tô các loại; 06 điện thoại di động các loại của các đối tượng.

Đến 06 giờ 45 phút ngày 14/9/2021, Chu Quốc K đến Công an thành phố P đầu thú về hành vi đánh bạc tại nhà Nguyễn Văn H và giao nộp số tiền dùng đánh bạc là 1.120.000đồng.

Quá trình điều tra vụ án các bị cáo khai nhận đã sử dụng tiền để đánh bạc, cụ thể như sau: L sử dụng 2.000.000đồng; K sử dụng 1.700.000đồng; C sử dụng 1.020.000đồng; T sử dụng 1.000.000đồng; H sử dụng 960.000đồng; M sử dụng 800.000đồng. Tổng cộng = 7.480.000đồng.

Với nội dung trên, tạị Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2021/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2021 Tòa án nhân dân thành phố P đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo: Hoàng Văn L 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/9/2021 đến 22/9/2021.

Các bị cáo khác bị xử phạt từ 7 đến 10 tháng tù.

Ngoài ra quyết định còn xử L về vật chứng, áp dụng hình phạt bổ sung, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04 tháng 01 năm 2022, bị cáo Hoàng Văn L có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Hoàng Văn L giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vđã phát biểu về đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn L. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sửa án sơ thẩm, xử phạt bị cáo L 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng.

Bị cáo không tranh luận gì;

Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng án treo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố P lập hồi 0 giờ 45 phút ngày 14/9/2021, phù hợp với lời khai của người làm chứng và còn được chứng minh bằng vật chứng thu giữ được khi bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 30 ngày 13/9/2021 đến 00 giờ 45 phút ngày 14/9/2021, tại nhà ở của Nguyễn Văn H ở T, xã N, thành phố P, tỉnh V. Chu Quốc K, Ân Văn C, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Hoàng Văn L, Lê Văn M có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng ăn tiền thì bị Công an thành phố P bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.480.000đồng.

Với hành vi nêu trên, các cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố P đã truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Văn L và các bị cáo khác về tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, thấy rằng: Trước khi phạm tội, bị cáo Hoàng Văn L chưa có tiền án tiền sự. Trong vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo là con bạc tích cực và xác định bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào); đã xét xử bị cáo mức án 8 tháng tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã xuất trình cho Tòa án cấp phúc thẩm đơn xin xác nhận của UBND xã N xác nhận bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị cáo đau ốm thường xuyên, hàng ngày bị cáo phải đi phụ xây để nuôi A con. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, mức độ phạm tội không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, việc cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, với sự giúp đỡ của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn L.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2021/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn L phạm tội: “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hoàng Văn L cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố P, tỉnh Vgiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ