vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/05/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị N.

Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Trịnh Đình Hạ. Về con chung: Anh Hạ và chị N không có con chung nên Tòa án không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị N - Trịnh Đình Hạ "Tranh chấp hôn nhân và gia đình”"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2022.
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.

Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 14/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1997.

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Trịnh Đình Hạ, sinh năm 1989.

Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã H, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/02/2022, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị N trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị N và anh Trịnh Đình Hạ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hà Bình, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa năm 2018. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị Huyền là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Năm 2019, anh Hạ bỏ đi sang Hàn Quốc, chị đã can ngăn nhưng anh Hạ không nghe, và cũng từ khi sang Hàn Quốc đến nay, anh Hạ không liên lạc gì với chị N, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh hiện nay ở đâu, như thế nào để cung cấp cho Tòa án. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trịnh Đình Hạ.

2. Về con chung: Chị và anh chưa có con chung.

3. Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung hay công nợ gì nên chị Hoàng Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Chị N trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh Trịnh Đình Hạ tại Hàn Quốc nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh Hạ vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ của mình là bà Bùi Thị Huệ, địa chỉ ở thôn T, xã H, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ mẹ đẻ của anh Hạ.

Tại các biên bản lấy lời khai, bà Bùi Thị Huệ (Mẹ đẻ của anh Hạ) trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Trịnh Đình Hạ. Chị Hoàng Thị N là vợ anh Hạ và là con dâu bà. Năm 2018, anh Hạ và chị N kết hôn và chung sống cùng vợ chồng ông, bà. Sau khi cưới được khoảng ba tháng, anh Hạ đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc cho đến nay chưa về Việt Nam và từ khi anh Hạ sang Hàn Quốc, chị N cũng đi học và làm việc tại Hà Nội, thỉnh thoảng có về thăm vợ chồng ông bà. Bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh Hạ nhưng anh Hạ không nói cho bà biết địa chỉ hiện tại đang ở đâu, chỉ biết anh vẫn đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Việc vợ chồng chị N, anh Hạ mâu thuẫn như thế nào bà không biết. Nay chị N làm đơn xin ly hôn với anh Hạ, chị cũng đã trao đổi với ông, bà và ông, bà cũng đã báo cho anh Hạ được biết và anh Hạ cũng đồng ý. Quan điểm của ông, bà việc chị N và anh Hạ ly hôn hay không là quyền của anh, chị, ông, bà không can thiệp. Về con chung và tài sản thì vợ chồng anh Hạ, chị N không có con chung và tài sản gì.

Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã đến làm việc và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Bản thân bà là mẹ anh Hạ nên đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh Hạ được biết.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị N, xử cho chị N được ly hôn anh Trịnh Đình Hạ; Anh Hạ và chị N không có con chung và tài sản gì nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không giải quyết. Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến củaViện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Hoàng Thị N là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là anh Trịnh Đình Hạ đăng ký hộ khẩu tại xã Hà Bình, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị Hoàng Thị N chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Trịnh Đình Hạ ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh Hạ tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Huệ là mẹ đẻ của anh Hạ đều trình bày không biết địa chỉ của anh Hạ ở Hàn Quốc. Tuy anh Hạ vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Bà Huệ vẫn thường xuyên liên lạc với anh Hạ nên đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh Hạ và anh Hạ cũng đồng ý, vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Hoàng Thị N vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Trịnh Đình Hạ mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Trịnh Đình Hạ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị N đều trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn. Sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Năm 2019 anh Hạ đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc và chị cũng đi Hà nội để làm ăn. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã không liên hệ với nhau, chị không có địa chỉ của anh Hạ tại Hàn Quốc nên không cung cấp địa chỉ của anh tại Hàn Quốc cho Tòa án. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Hạ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị N được ly hôn anh Hạ.

. Về con chung: Anh Hạ và chị N không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

. Về tài sản, công nợ chung: Chị Hoàng Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh Trịnh Đình Hạ không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh Hạ yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

. Về án phí: Chị Hoàng Thị N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.

.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị N.

- Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Trịnh Đình Hạ.

- Về con chung: Anh Hạ và chị N không có con chung nên Tòa án không giải quyết.

- Về tài sản: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị N đã nộp theo Biên lai thu số AA/2021/0001106 ngày 31/3/2022 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Anh Trịnh Đình Hạ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ