- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN, NGUYỄN THỊ TRÚC L - NGUYỄN LONG H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, L phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31-3-2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Khon
2. Bà Võ Thị Tuyết Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Võ Thanh Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1990 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Khóm A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Nguyễn Long H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 409, Ấp 4, xã L, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Long H kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 01/8/2014. Hôn nhân giữa anh chị được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu.
Thời gian đầu chị L và anh H chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do công việc của anh H phải đi làm xa nhà, và anh ít có thời gian giành cho gia đình, chị L có thu xếp công việc và chỗ ở để vợ chồng được sống cùng nhau nhưng anh chị lại thường xuyên xảy ra cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, những lúc say xỉn thì anh H hay có lời lẽ xúc phạm chị L và có khi là gia đình chị L. Từ đó khiến cuộc sống vợ cHng trở nên căng thẳng, anh chị không còn quan tâm lẫn nhau, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Chị L và anh H không còn sống chung từ tháng 02/2021 đến nay, thời gian sống xa nhau anh chị không có tìm cách hàn gắn tình cảm.
Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không hàn gắn lại được nên chị Nguyễn Thị Trúc L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Long H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Long H có 01 con chung tên Nguyễn Hồ Trúc Ê, sinh ngày 08/11/2016. Hiện nay, cháu Trúc Ê đang sống chung với chị L. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hồ Trúc Ê, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Long H đã được Toà án tống đạt hợp L các văn bản tố tụng, nhưng anh H không có văn bản ghi ý kiến về việc chị L yêu cầu ly hôn, nuôi con, đồng thời đều vắng mặt không có lý do.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc L đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn anh Nguyễn Long H chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự như vắng mặt không có lý do tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp L các văn bản tố tụng, cần phê phán rút kinh nghiệm.
Việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Trúc L đối với anh Nguyễn Long H.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Hồ Trúc Ê, sinh ngày 08/11/2016 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không có yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong H sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L và các tài liệu, chứng cứ khác có trong H sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con. Bị đơn anh Nguyễn Long H có địa chỉ tại xã Phú Lợi, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Nguyễn Long H được Tòa án triệu tập hợp L lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Long H là hợp pháp, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã l, huyện b, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 01/8/2014. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc nhưng được khoảng thời gian ban đầu, sau đó thì vợ cHng phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 02/2021 thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tại phiên tòa, chị L kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh H vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, không hàn gắn lại được, anh H không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh không có mặt để trình bày ý kiến.
Hội đồng xét xử xét thấy, chị L và anh H có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn hòa hợp trong cuộc sống, nguyên nhân là do anh chị không còn quan tâm, thấu hiểu nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, những lúc say xỉn thì anh H thường có lời lẽ xúc phạm chị L và gia đình chị L, tuy đã sống xa nhau thời gian dài nhưng cả hai không có biện pháp để tháo gỡ mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy đời sống chung giữa anh chị không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Hồ Trúc Ê, sinh ngày 08/11/2016. Hiện nay, cháu Trúc Ê đang sống chung với chị L. Chị L yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hồ Trúc Ê, anh H không có văn bản ghi ý kiến và không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Trúc Ê sống với chị L đã ổn định, cháu được chăm sóc tốt, khỏe mạnh và chị L có công việc tạo ra thu nhập để nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hồ Trúc Ê, phù hợp với khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, anh H không có văn bản ghi ý kiến và không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh H không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông không có mặt để trình bày ý kiến, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, L phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với anh Nguyễn Long H.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hồ Trúc Ê, sinh ngày 08/11/2016 cho chị Nguyễn Thị Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị L không yêu cầu.
Chị L và anh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Trúc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001364 ngày 13/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - CCTHADS huyện Thanh Bình; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã L, Huyện B, Đồng Tháp (Số ĐKKH: 045/2014, Quyến số: 01/2014, ngày 01/8/2014); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Xuân Nữ |