vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

{1} Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được li hôn anh Nguyễn Mạnh H.

{2} Về con chung: Giao chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Lê Đình Đ, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi li hôn. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Mạnh H. Anh Nguyễn Mạnh H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Duyên- Hùng"
  • Tòa quyết gì? {1} Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được li hôn anh Nguyễn Mạnh H.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:26/2022/HNGĐ- ST
Ngày 27-7-2022
(V/v tranh chấp ly hôn, quyền
nuôi con chung)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hồng; ông Hồ Tuấn Sơn

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Hải- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Lan Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 142/2022/TLST- HNGĐ ngày 25/5/2022 về việc “Kiện xin li hôn, quyền nuôi con chung ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1986

Địa chỉ: xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1987

Địa chỉ: xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin li hôn đề ngày 25/5/2022 và các lời khai, biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: Ngày 12 tháng 02 năm 2014, chị và anh Nguyễn Mạnh H đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.Tuy nhiên, sau khi cưới đến khoảng năm 2016 thì vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn vì không có quan điểm chung trong cuộc sống, không quan tâm đến nhau và sống li thân đến bây giờ. Cả hai bên vợ chồng đã tìm cách tự hóa giải nhưng vẫn không thành; cuộc sống luôn căng thẳng, không thể hàn gắn được. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin li hôn với anh H.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Đình Đ; sinh ngày 21 tháng 4 năm 2015. Hiện cháu đang ở cùng chị. Chị có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ và vay nợ: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: chị xin chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là anh Nguyễn Mạnh H không hợp tác với Tòa án, không viết bản khai, không tham gia hòa giải dù đã được giao nhận các thủ tục tố tụng hợp lệ.

Bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ anh Nguyễn Mạnh H cũng trình bày trong lời khai, xác nhận nội dung như chị D đã khai nại về mâu thuẫn vợ chồng, về nguyện vọng nuôi con sau khi li hôn.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyết đúng quy định của pháp luật. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56; 81, 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được li hôn anh Nguyễn Mạnh H; Xem xét các tình tiết thu thập được trong vụ án, đề nghị giao con chung của vợ chồng cho mẹ của cháu trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật và nguyện vọng của chị; chưa xem xét đến cấp dưỡng nuôi con vì nguyên đơn chưa yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí theo quy định chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai các đương sự, họp phiên công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải hợp lệ; việc các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không hợp tác nên Tòa án mở phiên tòa để xét xử vắng mặt theo quy định.

{2} Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét ngày 12 tháng 02 năm 2014, chị Nguyễn Thị Mỹ D và anh Nguyễn Mạnh H đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N , huyện N, tỉnh Nghệ An và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại điều 8, điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp.

- Về tình cảm: Hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đã hòa giải nhiều lần giữa gia đình nhưng không thành và đã sống li thân từ 2016 đến nay. Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng; mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp thuận ý kiến của chị D, cho chị được li hôn với anh Nguyễn Mạnh H.

- Về con chung: Vợ chồng có con chung là cháu Nguyễn Lê Đình Đ, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2015. Hiện cháu đang ở cùng chị. Chị D có nguyện vọng muốn tiếp tục nuôi cháu và chưa yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét các tình tiết thu thập được và hoàn cảnh sống của các bên, Hội đồng xét xử thấy nên giao con chung của vợ chồng cho mẹ của cháu là Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật; đảm bảo lợi ích về mọi mặt; thuận lợi cho sự phát triển tâm sinh lí của cháu. Bản thân chị chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

{2.3} Về tài sản chung, nợ và cho vay nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

{2.4} Về án phí: chị Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ án phí li hôn sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 bộ luật Tố tụng Dân sự; Xử:

{1} Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được li hôn anh Nguyễn Mạnh H.

{2} Về con chung: Giao chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Lê Đình Đ, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi li hôn. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Mạnh H.

Anh Nguyễn Mạnh H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu anh H lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung thì chị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của anh Nguyễn Mạnh H.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

{3} Về tài sản chung: Không

{4} Về án phí: chị Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000đồng án phí li hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên lai số 0005340 ngày 25/5/2022; chị Nguyễn Thị Mỹ D đã nạp đủ án phí.

{5} Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Cỡ chữ