vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L được ly hôn ông Nguyễn Văn X. Về con chung: Bà L và ông X xác nhận có 4 người con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Linh, sinh năm 1996; Nguyễn Thị Cẫm Nhung, sinh năm 1998; Nguyễn Đình Nhơn, sinh năm 2001 và Nguyễn Thanh Bảo, sinh ngày 14/01/2004, đều đã đủ 18 tuổi và phá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị L ly hôn Nguyễn Văn X"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST
Ngày 25-3-2022
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy và bà Nguyễn Thị Di.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 47/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1975, vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

Hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Chỗ ở hiện nay: ấp C, xã D, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1971, vắng mặt không có lý do.

Hộ khẩu thường trú: ấp P, xã P, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Chỗ ở hiện nay: ấp X, xã Y, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo Đơn khởi kiện, Bản Tự khai, Biên bản Hòa giải, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L và ông Nguyễn Văn X tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 1994, có đăng ký kết hôn, có tổ chức đám cưới. Đến năm 2015 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông X có người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm đến gia đình và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay mặc dù vợ chồng vẫn sống chung nhà. Sau đó vợ chồng có nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Khoảng giữa tháng 01/2022, bà L biết ông X và các con chung của bà L, ông X hay rình bà L để xem bà L có người đàn ông khác bên ngoài hay không nên bà L giả vờ cùng 1 người đàn ông (là bạn của bà L) đi vào khách sạn gần cầu Cửa Lấp thuộc Phường 12, thành phố Vũng Tàu để chọc tức ông X (Thực tế thì bà L và người đàn ông này chỉ là bạn bè, không có quan hệ tình cảm) và đã bị ông X và các con phát hiện tại Khách sạn. Nay Bà L nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với ông X được nữa. Vì vậy Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông X.

- Về con chung: Bà L và ông X có 4 người con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Linh, sinh năm 1996; Nguyễn Thị Cẫm Nhung, sinh năm 1998; Nguyễn Đình Nhơn, sinh năm 2001 và Nguyễn Thanh Bảo, sinh ngày 14/01/2004, đều đã đủ 18 tuổi và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo Biên bản Hòa giải, bị đơn ông Nguyễn Văn X trình bày:

- Bà L và ông X tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 1994, có đăng ký kết hôn, có tổ chức đám cưới. Ông X thừa nhận từ năm 2012 đến năm 2015 ông sống chung như vợ chồng với người đàn bà khác vì thời gian này ông bị bệnh “Trĩ”, bà L không chăm sóc chu đáo cho ông trong khi người đàn bà này lại lo cho ông đầy đủ. Tuy nhiên, từ năm 2016 ông X đã quay về sống chung với vợ con. Gần đây, ông X biết bà L có người đàn ông khác bên ngoài và vào khoảng giữa tháng 01/2022, ông X cùng các con phát hiện bà L cùng người đàn ông khác ở trong phòng của 1 Khách sạn gần cầu Cửa Lấp thuộc Phường 12, thành phố Vũng Tàu nên đã đuổi bà L ra khỏi nhà từ ngày này. Nay ông X nhận thấy tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn với Bà L.

- Về con chung: Bà L và ông X có 4 người con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Linh, sinh năm 1996; Nguyễn Thị Cẫm Nhung, sinh năm 1998; Nguyễn Đình Nhơn, sinh năm 2001 và Nguyễn Thanh Bảo, sinh ngày 14/01/2004, đều đã đủ 18 tuổi và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L. Về con chung: Bà L và ông X có 4 người con chung đều đã đủ 18 tuổi và phát triển bình thường, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông X không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông X tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, sự mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông X là có thật, vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau. Vào khoảng giữa tháng 01/2022 ông X cùng các con phát hiện bà L cùng người đàn ông khác ở trong phòng của 1 Khách sạn gần cầu Cửa Lấp thuộc Phường 12, thành phố Vũng Tàu nên đã đuổi bà L ra khỏi nhà từ ngày này. Mặt khác ông X cũng đồng ý ly hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân của bà L và ông X là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.

Về con chung: Bà L và ông X xác nhận có 4 người con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Linh, sinh năm 1996; Nguyễn Thị Cẫm Nhung, sinh năm 1998; Nguyễn Đình Nhơn, sinh năm 2001 và Nguyễn Thanh Bảo, sinh ngày 14/01/2004, đều đã đủ 18 tuổi và phát triển bình thường nên không yêu cầu giải quyết. Do đó không xét đến.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông X không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét đến.

Về án phí: Bà L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L được ly hôn ông Nguyễn Văn X.

- Về con chung: Bà L và ông X xác nhận có 4 người con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Linh, sinh năm 1996; Nguyễn Thị Cẫm Nhung, sinh năm 1998; Nguyễn Đình Nhơn, sinh năm 2001 và Nguyễn Thanh Bảo, sinh ngày 14/01/2004, đều đã đủ 18 tuổi và phát triển bình thường nên không yêu cầu giải quyết. Do đó không xét đến.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông X không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bà Trần Thị L phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 08719 ngày 17/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà L đã nộp xong.

3. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (25/3/2022) các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Nguyễn Thị Di

Đỗ Hữu Trí

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ