vanban.org

Bản án 26/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H Thị Đ về việc yêu c u ly hôn v i anh Hà Hoàng P.

Chị H Thị Đ được ly hôn v i anh Hà Hoàng P. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H Thị Đ về việc yêu c u ly hôn v i anh Hà Hoàng P.
  • Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24/5/2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Sơn;

2/ Ông Đặng Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 414/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/4/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04/5/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị H Thị Đ, sinh năm 1982.

Bị đơn: Anh Hà Hoàng P, sinh năm 1980.

C ng địa chỉ: Thôn BA, xã HC, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24/9/2021, bản khai của nguyên đơn chị Hồ Thị Đ khai:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Hoàng P cư i nhau vào năm 2004, c đăng ký kết hôn tại Ủy an nhân dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc. Việc cư i nhau là do hai ên tự nguyện, không ị ai ép uộc và được gia đình hai ên đ ng ý. Sau khi cư i vợ ch ng sống c ng gia đình ch ng tại Thôn BA, xã HC. Vợ ch ng sống v i nhau một th i gian thì xảy ra mâu thu n. Nguyên nhân mâu thu n do không hợp quan điểm sống, vợ ch ng thư ng xuyên cãi nhau. Anh P chơi c ạc gây ra nợ n n, vợ ch ng phải c ng nhau án tài sản trong nhà để trả nợ cho anh. Anh P không chăm lo cho gia đình, thư ng xuyên nhậu nh t, tiền làm ra anh chỉ tiêu xài cá nhân. M i l n nhậu về là chửi mắng, xúc phạm vợ thậm tệ. Chị Đ đã nhiều l n về nhà cha m ruột nhưng cha m khuyên ngăn, chị Đ cũng muốn con cái c gia đình đ y đủ nên l n nào cũng tha thứ, quay về sống chung v i Anh P. Tuy nhiên khi về sống thì vợ ch ng lại cãi nhau, mâu thu n ngày càng tr m tr ng không thể hàn gắn. Vợ ch ng không còn sống chung t tháng 6/2021 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ ch ng không còn nữa và chị yêu c u ly hôn v i anh Hà Hoàng P.

- Về con chung: Vợ ch ng c 02 con chung tên Hà Hoàng Kh, sinh ngày 03/01/2005; Hà Phi A, sinh ngày 17/11/2014. Hiện nay con tên Kha đang sống c ng Anh P, con tên Anh đang sống c ng chị Đ. Khi ly hôn, chị Đ yêu c u được quyền trực tiếp nuôi con tên Anh, con tên Kha giao cho Anh P trực tiếp nuôi dư ng. Không ai cấp dư ng nuôi con cho ai.

- Về tài sản và nợ chung: Không yêu c u Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do anh Hà Hoàng P vắng mặt nên chị Điệp yêu c u Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Hà Hoàng P vắng mặt trong giai đoạn chuẩn ị xét xử nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi l i khai, lập iên ản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát iểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những ngư i tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể t khi thụ lý cho đến trư c th i điểm Hội đ ng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Riêng ị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Đại diện Viện kiểm sát phát iểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu c u xin ly hôn của chị H Thị Đ. Chị H Thị Đ được ly hôn v i anh Hà Hoàng P. Về con chung: Giao con chung tên Hà Phi A - Sinh ngày 17/11/2014 cho chị H Thị Đ trực tiếp nuôi dư ng, giao con chung tên Hà Hoàng K – Sinh ngày 03/01/2005 cho anh Hà Hoàng P trực tiếp nuôi dư ng. Do chị Điệp không yêu c u cấp dư ng nên không xem xét giải quyết. Về tài sản và nợ: Không yêu c u nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ c trong h sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đ ng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu c u ly hôn, tranh chấp về nuôi con v i ị đơn. Bị đơn c địa chỉ tại thôn Bình An, xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Hà Hoàng P đã được tống đạt hợp lệ các văn ản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng v n vắng mặt không c lý do. Căn cứ điểm khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt ị đơn.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H Thị Đ và anh Hà Hoàng P tự nguyện tìm hiểu, cư i nhau vào năm 2004, c đăng ký kết hôn tại Ủy an nhân dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tại Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01, ngày 26/7/2004. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong th i gian chung sống, vợ ch ng thư ng phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân mâu thu n do không hợp quan điểm sống, vợ ch ng thư ng xuyên cãi nhau. Anh P chơi c ạc gây ra nợ n n, vợ ch ng phải c ng nhau án tài sản trong nhà để trả nợ cho anh. Anh P không chăm lo cho gia đình, thư ng xuyên nhậu nh t, tiền làm ra anh chỉ tiêu xài cá nhân. M i l n nhậu về là chửi mắng, xúc phạm vợ thậm tệ. Chị Đ đã nhiều l n về nhà cha m ruột nhưng cha m khuyên ngăn, chị Đ cũng muốn con cái c gia đình đ y đủ nên l n nào cũng tha thứ, quay về sống chung v i Anh P. Tuy nhiên khi về sống thì vợ ch ng lại cãi nhau, mâu thu n ngày càng tr m tr ng không thể hàn gắn. Vợ ch ng không còn sống chung t tháng 6/2021 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ ch ng đã hết, chị yêu c u được ly hôn v i anh Hà Hoàng P.

T giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều l n triệu tập anh Hà Hoàng P nhưng anh Phúc cố tình lẩn tránh, vắng mặt không c lý do nên Tòa không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Việc đ thể hiện ý thức xem thư ng pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đ , Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, trư c đây, chị H Thị Đ cũng đã c đơn khởi kiện đến Tòa yêu c u ly hôn anh Phúc nhưng sau đ chị Điệp rút đơn khởi kiện, Tòa án đã an hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình số 100/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21/10/2021. T th i gian đ đến nay, tình cảm vợ ch ng v n không hàn gắn được, mâu thu n vợ ch ng v n không được giải quyết nên chị Điệp tiếp tục c đơn ly hôn đến Tòa.

Hội đ ng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị H Thị Đ và anh Hà Hoàng P thực tế đã xảy ra mâu thu n tr m tr ng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy, yêu c u được ly hôn của chị H Thị Đ là c căn cứ nên chấp nhận.

- Về con chung:

Chị H Thị Đ và anh Hà Hoàng P có 02 con chung tên Hà Hoàng K – Sinh ngày 03/01/2005 và Hà Phi A - Sinh ngày 17/11/2014. Hiện nay con tên Kha đang sống c ng Anh P, con tên Anh đang sống c ng chị Đ.

Tại phiên tòa, chị Điệp yêu c u được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dư ng con chung tên Hà Phi A - Sinh ngày 17/11/2014, giao con chung tên Hà Hoàng K – Sinh ngày 03/01/2005 cho anh Hà Hoàng P trực tiếp nuôi dư ng, không ai phải cấp dư ng nuôi con cho ai.

Xét yêu c u nuôi con của chị Điệp, Hội đ ng xét xử thấy rằng: Hiện nay, cháu Hà Hoàng K đang sống c ng Anh P, cháu Hà Phi Anh đang sống c ng chị Đ. Tại iên ản lấy l i khai của các cháu thì cháu Anh cũng c nguyện v ng được ở v i m , cháu Kha c nguyện v ng được ở v i a khi Tòa giải quyết cho a m ly hôn. Vì vậy, việc giao cháu Hà Phi A - Sinh ngày 17/11/2014 cho chị H Thị Đ trực tiếp nuôi dư ng, giao cháu Hà Hoàng K – Sinh ngày 03/01/2005 cho anh Hà Hoàng P trực tiếp nuôi dư ng là hoàn toàn c căn cứ, tránh sự xáo trộn đối v i các cháu và ph hợp v i nguyện v ng của các cháu.

Về vấn đề cấp dư ng: Chị H Thị Đ không yêu c u anh Hà Hoàng P cấp dư ng nuôi con Hà Phi A - Sinh ngày 17/11/2014 nên Tòa không xem xét giải quyết. Đối v i anh Hà Hoàng P, do trong quá trình giải quyết, anh Phúc không đến Tòa để thể hiện ý kiến của mình về việc nuôi con. Do vậy, anh Phúc sẽ được quyền khởi kiện về việc yêu c u cấp dư ng nuôi con Hà Hoàng K – Sinh ngày 03/01/2005 ằng một vụ án dân sự khác, nếu c yêu c u.

Chị H Thị Đ, anh Hà Hoàng P được quyền trông nom, chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu c u giải quyết nên Hội đ ng xét xử không xem xét giải quyết.

T những phân tích nêu trên, nên ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu c u ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn là hoàn toàn c căn cứ.

Về án phí: Chị H Thị Đ phải chịu 300.000đ ng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Anh Hà Hoàng P không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 186, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy an Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H Thị Đ về việc yêu c u ly hôn v i anh Hà Hoàng P.

Chị H Thị Đ được ly hôn v i anh Hà Hoàng P.

2. Về con chung:

Về nuôi con: Giao con chung tên Hà Phi A - Sinh ngày 17/11/2014 cho chị H Thị Đ trực tiếp nuôi dư ng, giao con chung tên Hà Hoàng K – Sinh ngày 03/01/2005 cho anh Hà Hoàng P trực tiếp nuôi dư ng. Chị H Thị Đ, anh Hà Hoàng P được quyền trông nom, chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dư ng nuôi con: Chị H Thị Đ không yêu c u anh Hà Hoàng P cấp dư ng nuôi con Hà Phi A - Sinh ngày 17/11/2014. Anh Hà Hoàng P được quyền khởi kiện về việc yêu c u cấp dư ng nuôi con Hà Hoàng K – Sinh ngày 03/01/2005 ằng một vụ án dân sự khác, nếu anh Phúc c yêu c u.

3. Về án phí:

Chị H Thị Đ phải chịu 300.000đ ng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Điệp đã nộp đủ 300.000đ ng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005775 ngày 15/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

Anh Hà Hoàng P không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Đương sự c mặt tại phiên tòa c quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày, tính kể t ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/5/2022).

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được ản án hoặc ản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Cỡ chữ