vanban.org

Bản án 26/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A.

1/. Buộc bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh trả cho Ngân hàng A số tiền còn nợ tổng cộng là 18.889.893 đồng (mười tám triệu, tám trăm tám mươi chín ngàn, tám trăm chín mươi ba đồng) (trong đó: nợ gốc 8.055.549 đồng, lãi trong hạn 944.451 đồng, lãi quá hạn 9.889.893 đồng) theo Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH A - Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/DS-ST
Ngày: 20-4-2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phước.

Ông Hà Văn Châu.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Chí Thức, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 211/2021/TLST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST-DS ngày 14/3/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A. Địa chỉ trụ sở chính: phường B, Quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Như Th, chức vụ: nhân viên kinh doanh Ngân hàng A – Chi nhánh Sóc Trăng. Địa chỉ: phường B2, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 17/02/2022, bà Th có mặt).

- Bị đơn: Bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh, sinh năm 1978. Địa chỉ: khóm S, phường S, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2021 của Ngân hàng A (sau đây viết là Ngân hàng) và lời trình bày của bà Phan Như Th tại phiên tòa:

Ngân hàng A Chi nhánh Sóc Trăng đã ký kết hợp đồng vay vốn với bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh tại Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/7/2016, ngày vay 07/7/2016, nội dung thỏa thuận như sau:

Số tiền vay: 10.000.000 đồng. Lãi suất: 15,6%/năm, lãi quá hạn: 23,4%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 07/7/2016 đến ngày 07/7/2017). Mục đích vay: tiêu dùng. Hình thức vay: vay góp, lãi tính theo dư nợ ban đầu. Biện pháp đảm bảo: tín chấp.

Trong quá trình vay, từ ngày 07/7/2016 đến ngày 06/10/2021 bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh chỉ trả được tổng số tiền như sau: Vốn: 1.944.451 đồng. Lãi trong hạn: 615.549 đồng. Lãi quá hạn: 00 đồng. Tổng cộng: 2.560.000 đồng.

Do bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đề nghị bà Nh thanh toán dứt khoản nợ tạm tính đến ngày 20/4/2022 bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh còn nợ các khoản sau: Vốn: 8.055.549 đồng. Lãi trong hạn: 944.451 đồng. Lãi quá hạn: 9.889.893 đồng. Tổng cộng: 18.889.893 đồng.

Nay Ngân hàng A yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh trả ngay cho Ngân hàng A tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 20/4/2022 gồm: vốn 8.055.549 đồng, lãi trong hạn 944.451 đồng, lãi quá hạn 9.889.893 đồng, tổng cộng là 18.889.893 đồng và trả tiền lãi tính trên số tiền vốn phát sinh từ ngày 21/4/2022 đến ngày bà Nh trả hết nợ cho Ngân hàng A theo lãi suất quá hạn.

- Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng: về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Từ khi Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng thụ lý vụ án đến nay bị đơn vắng mặt tại địa chỉ Khóm S, Phường S, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên, nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/7/2016 nhưng bị đơn thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong kế ước nhận nợ nêu trên mà không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 được coi là cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung và thực hiện các thủ tục niêm yết văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh vắng mặt nơi cư trú nên Tòa án đã tiến hành niên yết các văn bản tố tụng như: thông báo thụ lý vụ án, thông báo về các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án... để bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ, quyền phản đối đối với yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được phản hồi từ phía bị đơn nên Tòa án không có cơ sở xem xét yêu cầu của bị đơn, như vậy, bị đơn đã tự tước bỏ quyền chứng minh và quyền cung cấp chứng cứ của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét các ý kiến và các yêu cầu của bị đơn mà đã có đủ căn cứ để xác định chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là “Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/7/2016” là hoàn toàn hợp lệ, phù hợp với quy định tại Điều 93, Điều 94 và Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét thấy, việc ký kết Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/7/2016 giữa nguyên đơn và bị đơn là giao dịch dân sự tự nguyện, đã được các bên đương sự thực hiện; thỏa thuận của hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm khế ước nhận nợ (nghĩa vụ trả nợ) nên nguyên đơn căn cứ vào khế ước để khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn trả toàn bộ số tiền còn nợ là yêu cầu chính đáng và phù hợp với Mục III Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/7/2016 và khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.

Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, từ ngày 07/7/2016 đến ngày 27/9/2016 bị đơn trả cho nguyên đơn được tổng số tiền: Vốn: 1.944.451 đồng. Lãi trong hạn: 615.549 đồng. Lãi quá hạn: 00 đồng. Tổng cộng: 2.560.000 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên sau ngày 27/9/2016 nguyên đơn đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn là phù hợp Mục III Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/7/2016.

Tạm tính đến ngày 20/4/2022 bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh còn nợ Ngân hàng số tiền:

Nợ gốc: 8.055.549 đồng.

Nợ lãi trong hạn: 944.451 đồng.

Nợ lãi quá hạn: 9.889.893 đồng.

Tổng cộng: 18.889.893 đồng.

Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả ngay tổng số nợ vốn gốc và lãi còn thiếu nêu trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn không phải chịu và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A.

1/. Buộc bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh trả cho Ngân hàng A số tiền còn nợ tổng cộng là 18.889.893 đồng (mười tám triệu, tám trăm tám mươi chín ngàn, tám trăm chín mươi ba đồng) (trong đó: nợ gốc 8.055.549 đồng, lãi trong hạn 944.451 đồng, lãi quá hạn 9.889.893 đồng) theo Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/7/2016.

Kể từ ngày 21/4/2022 cho đến khi thi hành án xong, bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 06/7/2016.

Trường hợp trong kế ước nhận nợ, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng A cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng A.

2/. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng A không phải chịu, trả lại cho Ngân hàng A số tiền là 446.500 (bốn trăm bốn mươi sáu ngàn năm trăm) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000061 ngày 27/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Bà Lê Lợi Hoàng Cẩm Nh phải chịu 944.495 đồng (chín trăm bốn mươi bốn ngàn bốn trăm chín mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3/. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

4/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Cỡ chữ