vanban.org

Bản án 26/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T yêu cầu anh Sơn Hoàng A trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số LD 1925600945 ngày 13-9-2019.

Buộc anh Sơn Hoàng A phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc và lãi là 92.086.000đồng (Trong đó vốn gốc 48.616.000đồng, nợ lãi trong hạn quá hạn là 28.980.000đồng, nợ lãi quá hạn là 14.490.000đồng). Kể từ ngày 20-7-2022 cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T yêu cầu anh Sơn Hoàng A trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số LD 1925600945 ngày 13-9-2019.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/DS-ST
Ngày: 20-7-2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trầm Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trần Đông

Ông Trần Đạt Thông

Thư ký phiên tòa: Bà Liêng Thị Kim Ngân, Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải: Ông Kim Mau- Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2021/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐST - DS ngày 20 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T

Địa chỉ: 266-268A, phường B, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành T, chức vụ - Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn T. (Theo văn bản ủy quyền ngày 05/4/2022) (Có mặt)

Địa chỉ: số 02-03, khóm 1, phường 1, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

2. Bị đơn: Anh Sơn Hoàng A, sinh năm 1999 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã Q, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T trình bày: Ngày 13-9-2019 Ngân hàng TMCP Sài Gòn T có ký hợp đồng kiêm giấy nhận nợ số LD 1925600945 cho anh Sơn Hoàng A vay số tiền 70.000.000đồng, lãi suất 21.6%/năm, thời hạn vay là 36 tháng hình thức trả hàng tháng chia làm 36 kỳ, trả vào ngày 13 hàng tháng với số tiền gốc và lãi là 3.204.000đồng. Từ lúc vay anh A trả được 11 tháng với tổng số tiền là 35.244.000đồng (Trong đó vốn gốc 21.384.000đồng, lãi 13.860.000đồng). Sau đó anh Sơn Hoàng A không thực hiện nghĩa vụ nên Ngân hàng khởi kiện anh A phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 19-7-2022 là 92.086.000đồng (Trong đó vốn gốc 48.616.000đồng, lãi trong hạn quá hạn 28.980.000đồng, lãi quá hạn 14.490.000đồng) và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 20-7-2022 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng ký ngày 13-9-2019.

Bị đơn anh Sơn Hoàng A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, Tòa án có tiến hành xuống địa phương để lấy lời khai và xác minh anh nhiều lần nhưng anh đều vắng mặt do anh không có ở địa phương. Vì vậy Tòa án căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt anh A.

Vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ và đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục, quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện Kiểm Sát nghiên cứu đúng thời hạn; cấp tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định tại các Điều 93, 94, 95, 96, 97, 109 và Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ về nguyên tắc cơ bản khi giải quyết vụ án, thành phần Hội đồng xét xử và Thư ký tòa án không thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Từ những chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa hôm nay cho thấy việc Ngân hàng TMCP Sài Gòn T khởi kiện yêu cầu anh A trả số tiền vay cả vốn gốc và lãi 92.086.000đồng là có cơ sở chấp nhận do anh A vi phạm hợp đồng. Kể từ ngày 20-7-2022 anh A còn phải chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng số LD 1925600945 ngày 13-9-2019 cho đến khi thanh toán hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Sơn Hoàng A có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Q, huyện D, tỉnh Trà Vinh, đối chiếu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy đơn khởi kiện của Ngân hàng Sacombank có nội dung yêu cầu anh Sơn Hoàng A trả số tiền vay theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp hợp đồng dân sự.

. Xét thấy giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn T và anh Sơn Hoàng A có giao kết hợp đồng vay tiền với nhau, tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng giao kết thể hiện bằng phương thức hợp đồng tín dụng ngày 13-9-2019 Ngân hàng TMCP Sài Gòn T có cho anh A vay 70.000.000đồng, mục đích vay tiêu dùng là đúng theo hợp đồng. Do anh A đã vi phạm hợp đồng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm buộc anh Sơn Hoàng A phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 70, 71, 72, 73, 91, 147, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng

Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T yêu cầu anh Sơn Hoàng A trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số LD 1925600945 ngày 13-9-2019.

Buộc anh Sơn Hoàng A phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc và lãi là 92.086.000đồng (Trong đó vốn gốc 48.616.000đồng, nợ lãi trong hạn quá hạn là 28.980.000đồng, nợ lãi quá hạn là 14.490.000đồng).

Kể từ ngày 20-7-2022 cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số LD 1925600945 ngày 13-9-2019 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T với anh Sơn Hoàng A.

Về án phí: Buộc anh Sơn Hoàng A có nghĩa vụ nộp 4.604.300đồng án phí. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T 1.460.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003879 ngày 02 tháng 4 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ