vanban.org

Bản án 26/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng gia công

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu của Ông Phan Văn T.

Buộc anh Nguyễn H có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn T số tiền còn nợ gốc là 24.960.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng gia công — án dân sự — "Phan Văn T yêu cầu Nguyễn H Trả nợ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu của Ông Phan Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/DS-ST
Ngày 31/5/2022
V/v “tranh chấp về
hợp đồng gia công, xây dựng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phát Triển.

2. Ông Đặng Văn Hai.

- Thö kyù phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Vân An là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, Đồng Tháp.

Ngày 26, 31/5/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 314/2021/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2021, về việc tranh chấp về hợp đồng gia công, xây dựng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2022/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Phan Văn T, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Số nhà 36/1, khóm 2, phường 3, đường Lý Tự Trọng, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

Bị đơn: Nguyễn H, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Số nhà 03 lô A, KDC ấp Tân Lộc B, xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Căn cứ hồ sơ khởi kiện gồm đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung, lời trình bày nguyên đơn Phan Văn T trình bày:

Ông Phan Văn T và anh Nguyễn H có thỏa thuận ký kết “tờ hợp đồng” ngày 22.6.2020 với nội dung ông T thực hiện cho anh Nguyễn H là chủ đầu tư để xây dựng, gia công mới căn nhà cấp 4, có gác, với diện tích 60m2 bao gồm các hạng mục theo hợp đồng. giá trị xây dựng là 1.400.000 đồng/m2, bên anh H đưa trước 5.000.000 đồng sau khi hợp đồng và ứng tiền hàng tuần cho ông T, phần còn lại đưa đủ sau khi hoàn thành.

Trong quá trình thi công thì giữa ông T và anh H thống nhất thay đổi diện tích xây dựng là 50,4m2 nên số tiền là 70.560.000 đồng, trừ tiền ứng 5.000.000 đồng thì còn lại theo hợp đồng là 65.560.000 đồng, tiền ông T ứng hàng tuần để trả công là 45.440.000 đồng.

Đồng thời giữa ông T và anh H có thỏa thuận miệng thi công thêm các phần phát sinh ngoài hợp đồng là 84.960.000 đồng.

Nay ông Phan Văn T yêu cầu buộc ông Nguyễn H trả tiền theo hợp đồng xây dựng, gia công nợ gốc còn lại là 40.520.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì.

Bị đơn Nguyễn H vắng mặt tại các buổi hòa giải, công khai chứng cứ của Tòa án. Tuy nhiên tại phiên tòa có trình bày ý kiến anh Nguyễn H thống nhất giữa anh và ông Phan Văn T có thỏa thuận ký kết “tờ hợp đồng” ngày 22.6.2020 với nội dung ông T thực hiện cho anh Nguyễn H là chủ đầu tư để xây dựng, gia công mới căn nhà cấp 4, có gác, với diện tích 60m2 bao gồm các hạng mục theo hợp đồng. giá trị xây dựng là 1.400.000 đồng/m2, bên anh H đưa trước 5.000.000 đồng sau khi hợp đồng và ứng tiền hàng tuần cho ông T, phần còn lại đưa đủ sau khi hoàn thành.

Trong quá trình thi công thì giữa ông T và anh H thống nhất thay đổi diện tích xây dựng là 50,4m2 đúng như ông Phan Văn T trình bày, giữa anh Nguyễn H và ông Phan Văn T cũng có thỏa thuận miệng để thi công thêm các phần phát sinh. Tuy nhiên về phần phát sinh và số tiền không đúng như ông Phan Văn T yêu cầu. Đồng thời anh Nguyễn H có cung cấp “bảng tổng kết” tiền xây dựng căn nhà của ông Phan Văn T tự soạn thảo chi tiết và gửi cho anh H để thông báo kết nợ sau khi đã hoàn thành. Tại “bảng tổng kết” số tiền nợ còn lại sau khi tổng kết là 24.960.000 đồng. Tại phiên tòa anh Nguyễn H thống nhất còn nợ số tiền này và đồng ý trả cho ông Phan Văn T.

Đối với ý kiến của anh Nguyễn H và chứng cứ cung cấp thì ông Phan Văn T thừa nhận là “bảng tổng kết” là do ông T soạn thảo và gửi đến anh Nguyễn H để anh H thực hiện trả nợ cho ông. Tuy nhiên ông T cho rằng “bảng tổng kết” mà ông gửi cho anh Nguyễn H chưa chi tiết mà nội dung ông khởi kiện tại Tòa án mới chi tiết và số tiền ông yêu cầu 40.520.000 đồng là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn Nguyễn H có mặt và sinh sống ở địa phương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Ông Phan Văn T và anh Nguyễn H có thỏa thuận ký kết “tờ hợp đồng” ngày 22.6.2020 với nội dung ông T thực hiện cho anh Nguyễn H là chủ đầu tư để xây dựng, gia công mới căn nhà cấp 4, có gác, với diện tích 60m2 bao gồm các hạng mục theo hợp đồng. giá trị xây dựng là 1.400.000 đồng/m2, bên anh H đưa trước 5.000.000 đồng sau khi hợp đồng và ứng tiền hàng tuần cho ông T, phần còn lại đưa đủ sau khi hoàn thành.

Trong quá trình thi công thì giữa ông T và anh H thống nhất thay đổi diện tích xây dựng là 50,4m2. Về nội dung này đã được ông T và anh H thống nhất.

Trong thời gian thi công xây dựng thì anh Nguyễn H và ông Phan Văn T cũng có thỏa thuận miệng để thi công thêm các phần phát sinh. Tuy nhiên ông Phan Văn T và anh Nguyễn H không có gì chứng minh cho việc thi công thêm phần phát sinh này.

Căn cứ “bảng tổng kết” do bị đơn Nguyễn H cung cấp đồng thời có sự thừa nhận của ông Phan Văn T: cụ thể “bảng tổng kết” do ông Phan Văn T tự soạn thảo liệt kê về nội dung hợp đồng, về phần diện tích xây dựng ban đầu, diện tích xây dựng thay đổi, phần phát sinh thêm, tổng kết tiền công và hợp đồng, tiền tạm ứng… Tổng kết nợ là 24.960.000 đồng. Đối với số tiền này anh Nguyễn H thống nhất và đồng ý trả cho ông T.

Đồng thời “bảng tổng kết” này ông Phan Văn T tự soạn thảo và gửi đến cho anh Nguyễn H để thông báo số tiền nợ còn lại sau khi đã hoàn tất thi công nhưng anh Nguyễn H chưa thanh toán.

Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Phan Văn T cho rằng “bảng tổng kết” này ông gửi để thông báo đến anh Nguyễn H là chưa chi tiết. xét lời trình bày của ông T là có mâu thuẫn, đồng thời ông T cũng không chứng minh được cho số tiền mà ông yêu cầu anh Nguyễn H theo như nội dung khởi kiện và nội dung “bảng tổng kết” mà bị đơn anh Nguyễn H cung cấp đã được ông T thừa nhận.

Do đó chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T buộc anh Nguyễn H trả số tiền 24.960.000 đồng là có căn cứ.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn Nguyễn H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Đối với ông T phải chịu án phí trên số tiền không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 542, Điều 543, Điều 544, Điều 552 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Ông Phan Văn T.

2. Buộc anh Nguyễn H có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn T số tiền còn nợ gốc là 24.960.000 đồng.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc anh Nguyễn H nộp 1.248.000 đồng án phí sơ thẩm dân sự.

Buộc ông Phan Văn T nộp 778.000 đồng khấu trừ số tiền 1.013.000 đồng ông T đã tạm ứng theo biên lai số 0005791 ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Hoàn trả ông T 235.000 đồng.

6. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 31/5/2022.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ