- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 26 /2021/ HSST Ngày: 03/3/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng
Ông Bùi Văn Mão
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hảo- Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2021/QĐXXST-HS ngày 19tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1992 tại huyện Ý Y, tỉnh N.Nơi cư trú: Thôn H1, xã Yên B, huyện Ý Y, tỉnh N; nghề nghiệp; Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Duy H2 ( tên gọi khác Nguyễn Văn H2) sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Á sinh năm 1973; Vợ: Nguyễn Thị T; có 02 con; Tiền án; tiền sự; Không.
Lịch sử bản thân: Ngày 18/9/2014 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt Nguyễn Văn H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ”
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2020, chuyển tạm giam ngày 23/12/2020, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình.
Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1986;
- Anh Hoàng L, sinh năm 1989;
Tại phiên tòa có mặt bị cáo; Vắng mặt người làm chứng chị Nguyễn Thị Thanh T3 và anh Hoàng L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy; Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 17/12/2020, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển kiểm soát 35B2 – 546.88 đi từ nhà ở thôn H1, xã Yên B, huyện Ý Y, tỉnh N đến khu vực chân cầu Non Nước thuộc địa phận thôn D, xã Yên B, huyện Ý Y, tỉnh N tìm mua ma túy đá về sử dụng. Tại đây H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 01 túi ma túy có đặc điểm bên ngoài là túi ni long màu trắng, kích thước 01 x 01 cm, một mép có viền màu đỏ, bên trong là chất tinh thể màu trắng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu túi ma túy vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô đi về thành phố Ninh Bình. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày thì về đến đường L, phố Tây S 1, phường Thanh B1, thành phố N1, H vào đổ xăng tại cửa hàng xăng dầu Petrolimex – cửa hàng 212 thì gặp Tổ công tác Công an phường Ninh P phối hợp với Công an phường Thanh B1 đang làm nhiệm vụ tại khu vực yêu cầu kiểm tra hành chính. Thấy vậy, H tự lấy từ trong túi áo khoác phía trước đang mặc một túi ni long màu trắng, kích thước 01 x 01 cm, một mép có viền màu đỏ, bên trong là chất tinh thể màu trắng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Tổ công tác tiến hành thu giữ và niêm phong túi nhỏ trên theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển kiểm soát 35B2 – 546.88 rồi đưa H cùng tang vật về trụ sở Công an phường Thanh B1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cân xác định trọng lượng chất tinh thể màu trắng trong gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn H có khối lượng là 0,16 gam, ký hiệu M gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 19/KLGĐ - PC09 - MT ngày 20/12/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1541 (không phảy một nghìn năm trăm bốn mươi mốt) gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn trả lại đối tượng giám định gồm chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu ký hiệu M có khối lượng 0,0775 (không phảy không nghìn bảy trăm bảy mươi lăm) gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 04/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Văn H từ 12 ( Mười hai) tháng tù đến 15 ( Mười lăm) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2020.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi “ Số 19/KLGĐ-PC09- MT Mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình” chứa số chất tinh thể mầu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M.
01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi “ Vỏ bao niêm phong còn lại, chứa toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu” .(Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2021 giữa Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình cũng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Hồi 16 giờ 15 phút ngày 17/12/2020, tại đường L, phố Tây S 1, phường Thanh B1, thành phố N1, tỉnh Ninh Bình.Nguyễn Văn H có hành vi cất giữ trái phép 0,1541 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện thì bị cáo đã tự lấy từ trong túi áo khoác phía trước đang mặc ra 01 túi ni lông mầu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. nên cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
......................................................
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Bị cáo là người trưởng thành, đã có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng sẽ phải phụ thuộc vào ma túy và bị hủy hoại cả thể chất, tinh thần và đồng thời cũng có thể là tác nhân phát sinh những tội phạm khác, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo H đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền vế chất ma túy của Nhà nước là nguy hiểm cho xã hội, phát sinh những tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không có
Nhân thân: Năm 2014 Tòa án nhân dân thành phố N1 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Qua xác minh bị cáo đã chấp hành bản án nêu trên và được xóa án tích.Qua đó cho thấy nhân thân của bị cáo là xấu, bị cáo không lấy đó là bài học để ăn năn hối cải nay tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù ra bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng xét thấy bị cáo là người không có thu nhập và công việc ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc gói ma túy: H khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực chân cầu Non Nước thuộc thôn D, xã Yên B, huyện Ý Y, tỉnh N nên không đủ cơ sở xác minh làm rõ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển kiểm soát 35B2 – 546.88 thu giữ của H. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản của chị Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1986, trú tại phố P, phường Bích Đ, thành phố N1. Ngày 16/12/2020 chị T3 cho H mượn xe nhưng không biết H sử dụng để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc xe trên cho chị T3 là chủ sở hữu.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,0775g là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín ghi số 217/KLGĐ-PC09-MT theo đúng quy định của pháp luật do cơ quan giám định hoàn trả lại, vỏ bao gói niêm phong ban đầu đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về án phí, bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H 13 (Mười ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 17 tháng 12 năm 2020
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi “ Số 19/KLGĐ-PC09- MT Mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình” chứa số chất tinh thể mầu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M.
01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi “ Vỏ bao niêm phong còn lại, chứa toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu” .(Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2021 giữa Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ( Hai trăm nghìn đồng)
5. Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh NB
- VKSND- TPNB
(đã ký)
- Bị cáo
- VKSND tỉnh NB
- Công an thành phố NB
- - Trại tạm giam
- Thi hành án dân sự TPNB
- Sở tư pháp
Lâm Thị Thanh Nhàn
- Lưu CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Kim Phƣợng Bùi Văn Mão
Lâm Thị Thanh Nhàn
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB - VKSND- TPNB - Bị cáo - VKSND tỉnh NB - Công an thành phố NB - - Trại tạm giam - Thi hành án dân sự TPNB - Sở tư pháp - Lưu | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thị Thanh Nhàn |