vanban.org

Bản án 26/2021/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Duy T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Duy T1 18 (mười tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/12/2020. Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Duy T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Duy T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HS-ST
Ngày 22- 9- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Tuyển

Ông Phạm Ngọc Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Đoàn Duy T1, sinh năm 1992 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Duy T2 và bà Nguyễn Thị Thúy N; chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2016/HSST ngày 06/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 08/02/2018, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/8/2016; bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/12/2020 đến ngày 21/12/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Ông Đinh Xuân B - Luật sư văn phòng luật sư T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình.

Địa chỉ: Số nhà 76… đường Q, tổ …, phường S, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Thúy N (có mặt); Anh Nguyễn Hà S; chị Phạm Thị T3; bà Trần Thị G; ông Đoàn Duy T1; anh Phạm Minh H; anh Đào Văn Đ; anh Lê Đình Q (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Duy T1 là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 12/12/2020 khi T1 đang ở phòng trọ tại số nhà 28…, phố P, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình thì có một người đàn ông tên là B (T1 quen biết tại huyện K, tỉnh Ninh Bình) gọi đến số điện thoại 0859.078…. của T1 hỏi mua 50 viên ma túy dạng “kẹo” và 50 gam ma túy Ketamine với giá là 60.000.000 đồng, T1 đồng ý bán cho B và hẹn gặp nhau tại quán cà phê T thuộc phố .., phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình để giao ma túy. T1 lấy túi nilon đựng 50 gam ma túy Ketamine và 01 túi nilon đựng 50 viên “kẹo” cất ở trên cửa sổ của phòng ngủ cho vào hộp giấy hình chữ nhật màu xanh đậm, kích thước khoảng (14 x 5 x 5) cm rồi gọi điện thoại cho anh Nguyễn Hà S, sinh năm 1981 trú tại số nhà 28.., phố P, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình là lái xe taxi hãng xe M màu trắng biển kiểm soát 35A-143…. chở ra quán cà phê T để giao ma túy. Khi đi đến trước cửa quán cà phê T, T1 gọi điện thoại cho B, B nói đang trong quán, T1 xuống xe đi vào quán tay phải cầm hộp giấy có chứa ma túy ngay lúc này T1 gặp tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Bình nên T1 đã vứt hộp xuống đường và được yêu cầu nhặt lên giao nộp, T1 khai nhận bên trong hộp là ma túy T1 mang đi bán cho B thì bị bắt. Vật chứng thu giữ là chiếc hộp bên trong có chứa ma túy được niêm phong theo quy định ký hiệu A1; thu giứ tại túi quần phải của T1 01 điện thoại di động Nokia màu đen; túi quần bên trái 01 điện thoại di dộng Iphone màu vàng cả hai chiếc điện thoại được niêm phong ký hiệu A2. Tổ công tác mời người làm chứng đưa Thiện và vật chứng về trụ sở Công an phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp số 25 ngày 12/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình tiến hành khám xét nơi ở của Đoàn Duy T1 tại số nhà 28…, phố P, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, thu giữ:

- Thu trên chỉ gỗ ốp tường phòng khách 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng miệng túi có đường viền màu đỏ, kích thước khoảng (16 x 10) cm bên trong có 70 viên nén màu xám hình cái khiên (hình trụ)

- Thu giữ trên cửa sổ phòng ngủ 01 túi nilon màu trắng miệng túi có đường viền màu đỏ, kích thước khoảng (16 x 10) cm bên trong có 50 viên nén màu xám hình cái khiên (hình trụ).

- Thu giữ dưới nền nhà gần đệm phòng ngủ 01 túi nilon màu trắng miệng túi có đường viền màu đỏ, kích thước khoảng (16 x 10) cm bên trong có 10 viên nén màu xám hình cái khiên (hình trụ); 04 túi nilon màu trắng miệng túi có đường viền màu đỏ, kích thước khoảng (3 x 3) cm bên trong có chất tinh thể màu trắng và 04 túi nilon màu trắng (gồm 03 túi miệng túi có đường viền màu đỏ và 01 túi miệng túi có đường viền màu xanh), kích thước khoảng (3 x 3) cm bên trong không có gì. Thu dưới nền nhà phòng ngủ 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính khoảng 20 cm trên mặt đĩa có bám dính tinh thể màu trắng; 01 thẻ ATM của ngân hàng SHB mang tên Đoàn Duy T1; 01 tờ tiền 10.000 đồng được cuộn tròn.

Tất cả những đồ vật trên được cho vào hộp giấy màu cam niêm phong theo quy định ký hiệu B.

- Thu trên đệm ngủ: 01 ví giả da màu đen kích thước (10 x 20) cm bên trong có 23.000.000 đồng; 01 ví giả da màu đen kích thước (12 x 9,5) cm bên trong có 01 chứng minh thư nhân dân; 01 giấy phép lái xe mô tô và 01 1 thẻ ATM của ngân hàng Vietcombank đều mang tên Đoàn Duy T1. Tất cả những đồ vật trên được cho vào hộp giấy màu đen niêm phong theo quy định ký hiệu C.

- Thu dưới nền nhà phòng ngủ 01 quyển vở viết kẻ ngang có 09 trang có chữ và số.

Ngày 13/12/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình mở niêm phong cân xác định khối lượng sau đó niêm phong lại, quyết định trưng cầu giám định, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Đoàn Duy T1, cụ thể:

Mở phong bì niêm phong thu giữ khi bắt quả tang Đoàn Duy T1, ký hiệu A1 bên trong có: 01 túi nilon màu trắng đường viền đỏ trong có 50 viên nén màu xám hình khiên (hình trụ) khối lượng 22,6090 gam được niêm phong ký hiệu M1; 01 túi nilon màu màu trắng đường viền đỏ bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, khối lượng 50,0172 gam được niêm phong lại ký hiệu M2.

Mở hộp giấy màu cam ký hiệu B bên trong gồm có: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng miệng túi có đường viền màu đỏ bên trong có 70 viên nén màu xám hình cái khiên (hình trụ) có khối lượng là 31,4577 gam được niêm phong lại, ký hiệu M3; 01 túi nilon màu trắng miệng túi có đường viền màu đỏ bên trong có 50 viên nén màu xám hình cái khiên (hình trụ) có khối lượng là 22,5915 gam, ký hiệu M4; 01 túi nilon màu trắng miệng túi có đường viền màu đỏ, bên trong có 10 viên nén màu xám hình cái khiên (hình trụ) có khối lượng là 4,5652 gam, ký hiệu M6; 04 túi nilon màu trắng miệng túi có đường viền màu đỏ, bên trong có chất tinh thể màu trắng có khối lượng là 3,2323 gam được niêm phong ký hiệu M5.

- 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính khoảng 20 cm trên mặt đĩa có bám dính tinh thể màu trắng; 01 thẻ ATM của ngân hàng SHB mang tên Đoàn Duy T1; 01 tờ tiền 10.000 đồng được cuộn tròn niêm phong trong túi mã số PS2A 1907798.

Tại bản kết luận giám định số 10/KLGĐ-PC09-MT ngày 18/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine. Lượng chất dạng tinh thể bám dính ít không xác định được khối lượng.

- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 50,0172 gam; M5 có khối lượng 3,2323 gam. Tổng khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng trong các mẫu ký hiệu M2, M5 là 53,2495 gam, đều là ma túy loại Ketamine.

Ketamine là chất ma túy thuộc Danh mục III, số thứ tự 35 Nghị định số 73/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

- Tổng khối lượng các viên nén màu xám trong các mẫu ký hiệu M1, M3, M4, M6 là 81,2234 gam. Mẫu các viên nén màu xám trong mẫu ký hiệu M1, M3, M4, M6 gửi giám định đều là ma túy loại MDMA.

MDMA là chất ma túy có số thứ tự 27, thuộc bảng Danh mục I, Nghị định số 73/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS-P1 ngày 25 tháng 8 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình truy tố bị can Đoàn Duy T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Duy T1 phạm tội “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y ”; áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 17 đến 18 năm tù, phạt bổ sung bị cáo từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng sung quỹ nhà nước.

+ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ: Số tiền 10.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia màu đen.

Tịch thu tiêu hủy: 70,9372 gam MDMA; 52,4612 gam Ketamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong; 01 đĩa xứ hình tròn màu trắng đường kính 20cm cùng phong bì niêm phong; 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật mầu xanh đậm, kích thước khoảng (14x5x5)cm được bỏ vào túi nilon màu trắng ký hiệu V1; 01 túi nilon mầu đen và vỏ túi nilon mầu trắng có kích thước (16x10)cm bỏ vào túi nilon mầu trắng ký hiệu V2; 01 túi nilon mầu trắng có kích thước (16x10)cm bỏ vào túi nilon mầu trắng ký hiệu V3. Các túi V1 đến V3 và túi niêm phong mã số PS2A053977 niêm phong ban đầu được niêm phong trong túi niêm phong số PS1A034066.

- 01 hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và dấu tròn của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Bình xác nhận niêm phong theo đúng quy định của pháp luật có kích thước (30 x 20 x 12) cm. Trên mặt hộp giấy có ghi: 01 phong bì và vỏ túi nilon niêm phong ban đầu khi bắt quả tang; 01 hộp giấy màu cam có kích thước (33 x 22 x 9)cm, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 03 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ đỏ kích thước (16 x 10) cm, 07 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ đỏ kích thước (3 x 3) cm, 01 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ xanh kích thước (3 x 3) cm, ký hiệu K.

- 01 hộp giấy màu đen niêm phong ban đầu có kích thước (28,5x18x9) cm; 01 quyển vở viết kẻ ngang có 09 trang có viết chữ và số có chữ ký của Phạm Thị T3.

-Trả lại cho Đoàn Duy T1:

* 02 chiếc ví giả da màu đen: 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Đoàn Duy T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 thẻ ATM của Ngân hàng SHB mang tên DOAN DUY T1, có số dư cuối trong tài khoản là 1.151.308 đồng được niêm phong

* 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank mang tên DOAN DUY T1, đã phong tỏa tài khoản, có số dư còn lại trong tài khoản là: 168.559.534 đồng và số tiền 3.000.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Duy T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Duy T1 xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố đẻ bị cáo bị liệt khonong đi lại được, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bản thân bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, hứa cải tạo tốt để có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh: Lời khai của bị cáo Đoàn Duy T1 tại phiên toà phù hợp với Cáo trạng, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/12/2020; Biên bản cân xác định khối lượng ngày 13/12/2020 (Bút lục 10-11), bản kết luận giám định số 10/KLGĐ-PC09-MT ngày 18/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (Bút lục 14-15). Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Đoàn Duy T1 là người nghiện ma tuý và có năng lực trách nhiệm hình sự, ngày 12/12/2020, T1 cất giấu trong người 22,6090 gam ma túy loại MDMA và 50,0172 gam ma túy loại Ketamine đến khu vực quán cà phê Time thuộc phố 7, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình để bán cho người tên B thì bị Công an tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt giữ,

Ngoài ra T1 còn cất giấu tại nơi ở của mình số nhà 282, phố P, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình 3,2323 gam ma túy loại Ketamine và 58,6144 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy thu của Đoàn Duy T1 là 81,2234 gam ma túy loại MDMA và 53,2495 gam ma túy loại Ketamine.

Hành vi nêu trên của Đoàn Duy T1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Có hai chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điề u 251. Tộ i mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y

1. Ngườ i nà o mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y , thì bị phạt tù từ 02 năm đế n 07 năm.

2…

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao coca có khối lượng 01

kilôgam đến dưới 05 kg

b) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặ c XLR - 11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây coca, lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kg;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam trở lên đến dưới 600 kg;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kg;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có hai chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4…

5. Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ

t tiề n từ 5.000.000 đồ ng đế n 500.000.000 đồ ng, cấ m đả m nhiệ m chứ c vụ , cấ m hà nh nghề hoặ c là m công việ c nhấ t đị nh từ 01 năm đế n 05 năm hoặ c tị ch thu mộ t phầ n hoặ c toà n bộ tà i sả n.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo Đoàn Duy T1 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Duy T1 là đặc biệt nghiêm trọng, không những xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự xã hội; hơn nữa, đây cũng là loại tội làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và chịu hình phạt cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng: Bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo T1 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già, ông nội là người có công với cách mạng. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T1 theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về nguồn gốc ma tuý: Quá trình điều tra Đoàn Duy T1 khai nhận sáng ngày 15/11/2020, T1 đi xe ô tô khách từ Ninh Bình ra Hà Nội mua của một người nam giới tên L khoảng 30 tuổi trước đây làm cùng nghề sơn với T1 với giá 70.000.000 đồng sau đó đem về phòng trọ tại số nhà 28.., phố p, phường b, thành phố N, tỉnh Ninh Bình chia nhỏ ra các túi có khối lượng khác nhau cất dấu nhằm mục đích để bán. T1 chưa thanh toán tiền cho L, T1 không biết địa chỉ cụ thể của L do vậy không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Về xử lý các đối tượng liên quan:

Đối với người đàn ông tên B mua ma túy của T1, T1 chỉ biết người này ở huyện K, tỉnh Ninh Bình mà không biết rõ địa chỉ cụ thể, B có sử dụng hai số điện thoại 0965310… và 0913391… để gọi cho T1 mua 50 viên ma túy kẹo và 50 gam ma túy Ketamine. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành xác minh số điện thoại 0965310… tại Chi nhánh Viettel Ninh Bình xác định số điện thoại đăng ký thuê bao mang tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1992, trú tại: xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình và xác minh số điện thoại 0913391… tại Trung tâm kinh doanh VNPT (Vinaphone) Ninh Bình xác định số điện thoại đăng ký thuê bao mang tên Đinh Thị Mỹ D, sinh năm 1986, trú tại: thị trấn Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Quá trình làm việc với chị Nguyễn Thị H và chị Đinh Thị Mỹ D đều xác định không sử dụng đăng ký thuê bao hai số điện thoại trên và không quen biết ai là Đoàn Duy T1, sinh năm 1992, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: số nhà 28.., phố P, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và người nào có tên là B nhà ở huyện K, tỉnh Ninh Bình. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ, để xử lý đối với người đàn ông tên B này là có căn cứ.

Đối với anh Nguyễn Hà S là lái xe taxi do T1 thuê, anh S không biết việc T1 mang ma túy đi bán nên không xem xét xử lý đối với anh S là đúng pháp luật.

Về biện pháp tư pháp và vật chứng: Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng để xử lý vật chứng của vụ án như sau:

5.1. Tịch thu sung quỹ: Số tiền 10.000 đồng T1 sử dụng tờ tiền cuộn lại để hít ma túy; 01 điện thoại di động Nokia màu đen T1 sử dụng để liên lạc trong quá trình mua bán ma túy.

5.2. Tịch thu tiêu hủy:

Số ma túy gồm có: 70,9372 gam MDMA; 52,4612 gam Ketamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong;

01 đĩa xứ hình tròn màu trắng đường kính 20cm cùng phong bì niêm phong;

01 hộp giấy hình hộp chữ nhật mầu xanh đậm, kích thước khoảng (14x5x5)cm được bỏ vào túi nilon màu trắng ký hiệu V1; 01 túi nilon mầu đen và vỏ túi nilon mầu trắng có kích thước (16x10)cm bỏ vào túi nilon mầu trắng ký hiệu V2; 01 túi nilon mầu trắng có kích thước (16x10)cm bỏ vào túi nilon mầu trắng ký hiệu V3. Các túi V1 đến V3 và túi niêm phong mã số PS2A053977 niêm phong ban đầu được niêm phong trong túi niêm phong số PS1A 034066.

01 hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và dấu tròn của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Bình xác nhận niêm phong theo đúng quy định của pháp luật có kích thước (30 x 20 x 12) cm. Trên mặt hộp giấy có ghi: 01 phong bì và vỏ túi nilon niêm phong ban đầu khi bắt quả tang; 01 hộp giấy màu cam có kích thước (33 x 22 x 9) cm, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 03 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ đỏ kích thước (16 x 10) cm, 07 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ đỏ kích thước (3 x 3) cm, 01 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ xanh kích thước (3 x 3) cm, ký hiệu K.

01 hộp giấy màu đen niêm phong ban đầu có kích thước (28,5x18x9) cm; 01 quyển vở viết kẻ ngang có 09 trang có viết chữ và số có chữ ký của Phạm Thị T3.

5.3. Trả lại cho bị cáo Đoàn Duy T1:

* 02 chiếc ví giả da màu đen gồm: Một chiếc có kích thước (12 x 9,5) cm và một chiếc có kích thước (10 x 20) cm; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Đoàn Duy T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 thẻ ATM của Ngân hàng SHB mang tên DOAN DUY T1, có số dư cuối trong tài khoản là 1.151.308 đồng, đã được niêm phong

* Trả lại cho Đoàn Duy T1 nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án: Số tiền 3.000.000 đồng; 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank, mang tên DOAN DUY T1, đã phong tỏa tài khoản, có số dư còn lại trong tài khoản là: 168.559.534 đồng đã được phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 02/CSMT ngày 29/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình.

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng; do đó các hành vi; quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Bị cáo Đoàn Duy T1 bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Duy T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Duy T1 18 (mười tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/12/2020. Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

2.1. Tịch thu sung quỹ: Số tiền 10.000 đồng T1 sử dụng tờ tiền để hít ma túy, 01 điện thoại di động Nokia màu đen T1 sử dụng để liên lạc trong quá trình mua bán ma túy.

2.2. Tịch thu tiêu hủy:

Số ma túy gồm có: 70,9372 gam MDMA; 52,4612 gam Ketamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong trong một phong bì thư ghi mẫu vật hoàn trả sau giám định số 10/KLGĐ-PC09-MT vụ Đoàn Duy T1, sinh năm 1992, xảy ra ngày 12/12/2020 tại phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình

01 đĩa xứ hình tròn màu trắng đường kính 20cm cùng phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư ghi mẫu vật hoàn trả sau giám định số 10/KLGĐ-PC09-MT vụ Đoàn Duy T1, sinh năm 1992, xảy ra ngày 12/12/2020 tại phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

01 hộp giấy hình hộp chữ nhật mầu xanh đậm, kích thước khoảng (14x5x5)cm được bỏ vào túi nilon màu trắng ký hiệu V1; 01 túi nilon mầu đen và vỏ túi nilon mầu trắng có kích thước (16 x 10) cm bỏ vào túi nilon mầu trắng ký hiệu V2; 01 túi nilon mầu trắng có kích thước (16 x 10) cm bỏ vào túi nilon mầu trắng ký hiệu V3. Các túi V1 đến V3 và túi niêm phong mã số PS2A053977 niêm phong ban đầu được niêm phong trong túi niêm phong số PS1A034066. Trên mặt túi ghi: Vụ án mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 12/12/2020 tại phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

01 hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và dấu tròn của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Bình xác nhận niêm phong theo đúng quy định của pháp luật có kích thước (30 x 20 x 12)cm. Trên mặt hộp giấy có ghi: 01 phong bì và vỏ túi nilon niêm phong ban đầu khi bắt quả tang; 01 hộp giấy màu cam có kích thước (33 x 22 x 9)cm, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 03 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ đỏ kích thước (16 x 10)cm, 07 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ đỏ kích thước (3 x 3)cm, 01 túi nilon màu trắng trên mép có đường chỉ xanh kích thước (3 x 3)cm, ký hiệu K.

01 hộp giấy màu đen niêm phong ban đầu có kích thước (28,5x18x9) cm; 01 quyển vở viết kẻ ngang có 09 trang có viết chữ và số có chữ ký của Phạm Thị T3.

2.3. Trả lại cho bị cáo Đoàn Duy T1:

* 02 chiếc ví giả da màu đen gồm: Một chiếc có kích thước (12x9,5)cm và một chiếc có kích thước (10 x 20)cm; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Đoàn Duy T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 thẻ ATM của Ngân hàng SHB mang tên DOAN DUY T1, có số dư cuối trong tài khoản là 1.151.308 đồng, được niêm phong trong một phong bì thư ghi mẫu vật hoàn trả sau giám định số 10/KLGD-PC09-MT vụ Đoàn Duy T1, sinh năm 1992, xảy ra ngày 12/12/2020 tại phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

* Trả lại cho Đoàn Duy T1 nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án: Số tiền 3.000.000 đồng (Căn cử ủy nhiệm chi số 01 lập ngày 01/9/2021 giữa Công an tỉnh Ninh Bình và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình); 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank, mang tên DOAN DUY T1, đã phong tỏa tài khoản, có số dư còn lại trong tài khoản là: 168.559.534 đồng đã được phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 02/CSMT ngày 29/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình.

(Chi tiết như biên bản bàn giao vật chứng ngày 31 tháng 8 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3. Án phí: Bị cáo Đoàn Duy T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ