- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Văn Nông tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cầm Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 26/2021/HSST Ngày 16 tháng 11 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Tiện
2. Ông Hà Văn Cương
- Thư ký phiên toà:
Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cầm Văn N - Sinh năm 1985; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Bó Lạ, xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, Sơn La; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ, đảng phái: Không; Con ông Cầm Văn L và bà Cầm Thị M (đã chết); Vợ Cầm Thị N và 02 con (con lớn sinh năm 2005,con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án,Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 20/8/2021 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 20/8/2021 tổ công tác Công an xã Chiềng Cang làm nhiệm vụ tại bản Nà Hỳ phát hiện một người đàn ông điều khiển xe mô tô hướng từ bản Chiềng Cang về bản Nà Hỳ có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính, người đàn ông này khai nhận là Cầm Văn N, sinh năm 1985 trú tại bản Bó Lạ, xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã. Qua kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay trái của N 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 09 viên nén màu hồng (N khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, tạm giữ 01 xe mô tô Honda Wave α BKS 26C1- 013.52
Ngày 21/8/2021 tại Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng, kết quả: 09 viên nén màu hồng có khối lượng 0,83gam, đã trích 02 viên có khối lượng 0,18gam làm mẫu niêm phong gửi giám định ký hiệu N, vật chứng còn lại 07 viên ký hiệu N1.
Kết luận giám định số 1439 ngày 24/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,83gam loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra Cầm Văn N khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/8/2021, N đem theo số tiền 230.000đ điều khiển xe mô tô từ nhà ở bản Bó Lạ, xã Chiềng Cang ra đường quốc lộ 4G để gửi gạo cho vợ đang làm thuê ở Hà Nội. Sau khi gửi đồ lên xe khách, Nông ra quán tạp hóa trước cổng trường THCS Chiềng Cang, huyện Sông Mã ngồi uống nước. Khoảng 21 giờ 30 phút thì có một thanh niên dân tộc Thái khoảng 30 tuổi không rõ lai lịch vào nói chuyện và hỏi N có sử dụng Hồng phiến không, N đáp chỉ sử dụng Heroine nhưng đang cai, nam thanh niên này nói nếu vậy thì sử dụng Hồng phiến để đỡ lên vật, người này nói đang có 09 viên Hồng phiến và muốn bán với giá 200.000đ, N đồng ý mua, mua được ma túy N cầm ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi về đến khu vực bản Nà Hỳ, xã Chiềng Cang, thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Cang kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên.
Tại cáo trạng số 155/CT-VKS ngày 02/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Cầm Văn Nông về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cầm Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 18 - 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và các vật chứng liên quan.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1 Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 20/8/2021; Vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 1439 ngày 24/8/2021; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/8/2021 bị cáo Cầm Văn N đã có hành vi tàng trữ 0,83 gam ma tuý, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố và Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
3 Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
4 Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
5 Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
6 Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định và mảnh nilon, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu là những vật Nhà nước cấm tàng trữ và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave α BKS 26C1-013.52 bị thu giữ trong vụ án xác định là tài sản hợp pháp của Lò Văn H (em vợ N), khi bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy H không biết nên cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã trả lại chiếc xe cho Lò Văn H là đúng quy định.
7 Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Thái bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là đúng quy định của pháp luật.
8 Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có gia đình thuộc diện hộ nghèo, nên được miễn án phí theo quy định.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Cầm Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Cầm Văn N 24 (hai mươi bốn) tháng tù - Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2021.
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án (16/11/2021).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 0,65gam Methamphetamine.
+ 01 mảnh nilon màu trắng.
+ 01vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã được bóc mở.
(các vật chứng được đựng trong phong bì niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 046472).
Theo Quyết định chuyển vật chứng 152/QĐ-VKSSM ngày 02/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2021 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/11/2021)./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Sơn La; - VKSND Tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - Trại giam; - THA hình sự; - Chi cục THADS; - Sở TP; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Toàn |