- Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN ---------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26 /2021/HSST Ngày 15 tháng 9 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị T
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức N
Ông Nguyễn Trung T
Thư ký phiên toà: Ông Dương Mạnh H – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:
Ông Đỗ Văn T – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2021/HSST ngày 18/8/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HS ngày 01/9/2021 đối với :
Bị cáo: Nguyễn Đức T - Sinh năm 1974; Giới tính: Nam.
HKTT và nơi ở: thôn Trúc Lẻ, xã Xuân Trúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 6/12.
Bố đẻ: Nguyễn Đức Duật - Sinh năm 1932 (đã chết).
Mẹ đẻ: Lê Thị Kha - Sinh năm 1935. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Ngày 13/3/2000 được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba.
Chị: Lê Thị Thoa - Sinh năm 1970. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Em: Nguyễn Đức Vinh - Sinh năm 1975. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Em: Nguyễn Đức Quang - Sinh năm 1978. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 27/7/2017 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Xuân Trúc, huyện Ân Thi quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi nghiện ma túy, thời hạn giáo dục 03 tháng, kể từ ngày 27/7/2017. Đến ngày 27/10/2017 chấp hành xong thời hạn giáo dục theo giấy chứng nhận chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã số 01 ngày 27/10/2017 của Ủy ban nhân dân xã Xuân Trúc.
- Ngày 05/02/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm, xử phạt 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt đi thi hành án về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Ngày 28/3/2018 chấp hành xong các khoản án phí và ngày 07/4/2019 chấp hành xong hình phạt tù theo giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 413 ngày 07/4/2019 của Trại giam số 5.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Hưng Yên
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Người làm chứng:
Trương Văn L, sinh năm 1967 (Vắng mặt)
Trú tại: La Mát, Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên
Lê Thị K, sinh năm 1935 (Vắng mặt)
Trú tại: Trúc Lẻ, Xuân Trúc, Ân Thi, Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, nên khoảng 12 giờ ngày 03/6/2021, Nguyễn Đức T sinh năm 1974 ở thôn Trúc Lẻ, xã Xuân Trúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên mang theo số tiền 300.000 đồng để đi mua ma túy về sử dụng, T đi ra đường thuê xe ôm của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ và biển số xe, T bảo chở đến khu vực bờ sông Kẻ Sặt, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nhưng T không nói và người xe ôm cũng không biết T thuê chở đi để mua ma túy, nên đồng ý. Khi tới khu vực bờ sông Kẻ Sặt, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, T bảo người lái xe ôm dừng xe và đưa trả cho người xe ôm 100.000 đồng tiền công; sau đó T đi bộ một mình dọc bờ sông một đoạn thì gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ đang đứng một mình trông giống người nghiện, T đi tới nói với người này "có ma túy bán không, để tôi hai trăm nghìn đồng", người nam giới trả lời “có”, T lấy ra 200.000 đồng (gồm 02 tờ loại mệnh giá 100.000 đồng) đưa cho người thanh niên cầm và người thanh niên đưa lại cho T 01 gói giấy bạc kích thước (1,2 x 0,9)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, T biết đó là là Heroine, nên cầm cất giấu vào túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc, sau đó đi bộ một mình tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T đang đi trên đường Quốc lộ 38 thuộc địa phận thôn La Mát, xã Phù Ủng, huyện Ân Thi thì bị Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi phối hợp với Công an xã Phù Ủng đang trên đường đi tuần tra an ninh trật tự thấy nghi vấn đã yêu cầu kiểm tra phát hiện tại túi áo ngực phía trước bên trái T đang mặc 01 gói giấy bạc kích thước (1,2 x 0,9)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, T Ki là Heroine của T vừa mua về để sử dụng, nên Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T; vật chứng thu giữ: Tại túi áo ngực phía trước bên trái T đang mặc 01 gói giấy bạc kích thước (1,2 x 0,9)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, niêm phong ký hiệu (I).
Kết luận giám định số 155/MT - PC09 ngày 06/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu I, có khối lượng là 0,166g (Không phẩy một sáu sáu gam), là ma túy, loại Heroine. Sau giám định hoàn lại 0,149g (Không phẩy một bốn chín gam) Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu I; mẫu hoàn được niêm phong trong bì thư số 155/MT – PC09 giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi quản lý.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đức T đã thành khẩn Ki nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời Ki nhận của bị cáo phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định; phù hợp với lời Ki của những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Đối với người nam giới mà T Ki đã bán 01 gói Heroine cho T, nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người thanh niên này và người đàn ông xe ôm chở T đi mua ma túy, nhưng T cũng không biết tên, tuổi, địa chỉ, biển số xe của người xe ôm; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi thu giữ của T 01 gói Heroine có khối lượng là 0,166g; sau giám định, Cơ quan giám định hoàn lại 0,149g Heroine được niêm phong tại bì thư ghi mẫu gửi giám định số 155/MT - PC09, hiện đang được quản lý tại Kho vật chứng Công an huyện Ân Thi chờ xử lý.
Cáo trạng số 25 ngày 17 tháng 08 năm 2021 của VKS huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh:
Tuyên xử bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/6/2021.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS
Tịch thu cho tiêu huỷ 01 niêm phong ghi mẫu vật gửi giám định hoàn lại số 155/MT- PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên bên trong có 0,149g Heroine.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định./.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Cơ quan điều tra công an huyện Ân Thi; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự , thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người làm chứng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T ®· thµnh Ki nhËn hµnh vi ph¹m téi nh Bản cáo trạng của Viển kiểm sát đã truy tố: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/6/2021, tại đoạn đường Quốc lộ 38 thuộc địa phận thôn La Mát, xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói chất bột màu trắng dạng cục, bị cáo Ki là Heroine mua về để sử dụng bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Kết luận giám định số 155/MT - PC09 ngày 06/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên thể hiện: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột niêm phong trong bì thư ký hiệu I thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng là 0,166g (Không phẩy một sáu sáu gam) là ma túy loại Heroine.
Lêi Ki nhËn cña bÞ c¸o phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, lời Ki của người làm chứng, kết luận giám định vµ c¸c tµi liÖu chøng cø kh¸c cã trong hå s¬ do C¬ quan CS§T C«ng an huyÖn ¢n Thi ®· thu thËp ® îc.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý một số mặt hàng cấm, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các chất ma tuý nói chung và Heroine núi riêng là mặt hàng Nhà nước cấm mua bán lưu thông trên thị trường. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo coi thường pháp luật đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hiện nay tệ nạn ma tuý đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khoẻ, huỷ hoại phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và cũng là mầm mống, nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy cần phải đưa bị cáo ra xét xử một cách nghiêm minh, có hình phạt thỏa đáng nhằm mục đích trừng trị, giáo dục người phạm tội đồng thời góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm chung.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Như vậy, Bản cáo trạng số 25 ngày 17/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn Ki nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và có thái độ ăn năn, hối cải, bị cáo có mẹ đẻ là bà Lê Thị K được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2017 bị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Xuân Trúc, huyện Ân Thi áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường về hành vi nghiện ma túy . Năm 2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, tuy đã xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, có chí hướng phấn đấu, tránh xa ma túy mà tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo không có ý thức hoàn lương, coi thường pháp luật. Do đó tại lần phạm tội này cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét về hoàn cảnh kinh tế cũng như việc bị cáo không có việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền là đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với số ma túy 0,149 gam Heroine hoàn lại sau giám định là mặt hàng cấm nên tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 135; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù thời gian tính từ ngày 03/6/2021
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu huỷ 0,149 gam Heroine hoàn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư số 155/MT – PC 09 (có đặc điểm được thể hiện tại Quyết định chuyển vật chứng số 20ngày 17/8/2021của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi)
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS huyện;tỉnh - Cơ quan CSĐT Ân Thi; - Chi cục THADS; - THAHS; - Bị cáo; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lương Thị T |