vanban.org

Bản án 26/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Lê Văn H 18 (Mười tám) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày giữ, tạm giam (01/11/2020). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ VĂN HÀ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HS-ST
Ngày: 02-03-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Biên

2. Bà Khương Thị Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Ngọc Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 03 năm 2021, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Văn H - Sinh năm 1978; Nơi sinh: Phường B, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Khối A, phường B, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 6/12; Con ông: Lê Văn M (Đã chết) và con bà: Lê Thị L (Đã chết); Có vợ: Nguyễn Thị L - Sinh năm 1979; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thùy Linh – Trợ giúp viên pháp lý

Địa chỉ: Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 7, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa

* Người làm chứng: Anh Mai Xuân H – Sinh năm: 1961

Địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 01/11/2020, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Nghi Sơn đang làm nhiệm vụ tại thôn H, xã T, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, thì nhìn thấy Lê Văn H đang đi bộ ở lề đường Quốc lộ 1A, thuộc thôn H, xã T, thị xã Nghi Sơn. Do nghi vấn H có hành vi vi phạm pháp luật, nên tổ công tác đã yêu cầu H đứng lại để kiểm tra; quá trình kiểm tra phát hiện trong bao áo ấm bên phải của H đang mặc trên người có 01 gói ni lông màu đen, bên trong có 01 gói giấy chứa cục chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Nghi Sơn tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của Lê Văn H toàn bộ số vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 2925/PC09 ngày 04/11/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Cục chất bột màu trắng bên trong gói ni lông màu đen thu giữ của Lê Văn H là ma túy, có tổng khối lượng 0,337g (Không phẩy ba ba bảy gam) loại Heroine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn thu giữ 0,337 gam chất ma túy, loại Heroine trong bao áo ấm bên phải của H đang mặc trên người.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã ra quyết định chuyển vật chứng của vụ án đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn để bảo quản và thi hành án gồm: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,322 gam chất ma túy, loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Triệu Minh Thanh và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Theo lời khai của Lê Văn H: 0,337 gam chất ma túy, loại Heroine mà H tàng trữ bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Nghi Sơn thu giữ là H nhờ Lê Văn D - Sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa mua với số tiền 500.000 đồng; sau đó có một người đàn ông lạ mặt đưa ma túy cho H. Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ điều tra, nhưng không xác định được Lê Văn D là người mua ma túy cho H và không xác định được người đàn ông lạ mặt đưa ma túy cho H, nên không có căn cứ để xử lý.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKSNS-HS ngày 20/01/2021 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Văn H.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo là từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ tạm giữ, tạm giam ngày 01/11/2020.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,322g ma túy loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định hiện đang được quy trữ tại Chi cục thi hành án thị xã Nghi Sơn;

- Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Quan điểm của Bà Mai Thùy Linh trợ giúp viên pháp lý, bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cụ thể:

Thứ nhất xét về nguyên nhân, mục đích của hành vi phạm tội:

Bị cáo sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông, bố bị cáo mất sớm. từ nhỏ bị cáo mới học đến lớp 6 rồi bỏ học đi làm, gia đình đông anh chị em, chỉ vì nhất thời mà tìm đến ma túy. Bị cáo mua ma túy với mục đích là để sử dụng chứ không có ý định bán hay phát tán ma túy cho các đối tượng khác.

Thứ hai: xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong suốt quá trình điều tra và cho đến tại phiên tòa ngày bị cáo đều thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Bị cáo thuộc gia đình hộ cận nghèo, có hoàn cảnh khó khăn lại là lao động chính trong gia đình. Trước khi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại địa phương luôn chấp hành tốt các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước.

Vì vậy rất mong Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo cũng như thái độ thành khẩn khai báo trong suốt quá trình cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà Viện Kiểm sát đề nghị.

Về hình phạt bồ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên TGV đề xuất không áp dụng hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1.] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như các tài liệu chứng chứng đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay có đủ căn cứ để khảng định VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Tại phiên toà, đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, đe dọa sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, cũng như ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Ma túy là hiểm họa của cộng đồng và còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải có đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Ngày 01/11/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đã tìm mua ma túy để sử dụng và khi chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Lẽ ra bị cáo phải tu dưỡng, rèn luyện mình để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Nhưng do đua đòi nên bị cáo đã bước chân vào con đường phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã nghiện ma túy khoảng 03 tháng. Do đó nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mới đủ để cải và giáo dục bị cáo cũng như phòng răn đe và ngừa chung.

Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đó là: Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0, 322g ma túy loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định hiện đang được quy trữ tại Chi cục thi hành án thị xã Nghi Sơn.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện không có nghề nghiệp ổn định, gia đình bị cáo thuộc diện cận nghèo. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Văn H.

- Tuyên bố: Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Xử phạt: Lê Văn H 18 (Mười tám) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày giữ, tạm giam (01/11/2020). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 0,322g ma túy loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định hiện đang được quy trữ tại Chi cục thi hành án thị xã Nghi Sơn.

(Theo phiếu nhập kho số NK2021/37 ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người bào chữa tại phiên tòa. Tuyên bố những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ