vanban.org

Bản án 26/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 17/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T (Đặng Văn T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Minh T 02 năm 06 tháng tù (Hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2021. Xử lý vật chứng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐẶNG MINH T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T (Đặng Văn T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HS-ST
Ngày: 17-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nông Văn Hoàng

Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Quỳnh Trâm – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Đặng Minh T, tên gọi khác: Đặng Văn T; sinh ngày 13/02/1977; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 194, khối phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Thanh T1, sinh năm 1949, con bà Hoàng Thị X, sinh năm 1949; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 23/11/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 24 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật Hình sự (phần bồi thường dân sự chưa thi hành); tiền sự: Ngày 02/6/2014 bị Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, phạt tiền 1.500.000 đồng chưa thi hành; nhân thân: Năm 2007 bị xử phạt 09 tháng tù, năm 2009 bị xử phạt 12 tháng tù đều về hành vi Trộm cắp tài sản, năm 2016 bị xử phạt 02 năm tù về hành vi Cưỡng đoạt tài sản đều đã được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/9/2021, tạm giam từ ngày 25/9/2021 tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Văn Quan đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 15 phút, ngày 22/9/2021, tại km 32 + 200 quốc lộ 1B thuộc địa phận phố T, thị trấn V, huyện V, tổ công tác Công an huyện Văn Quan bắt quả tang Đặng Minh T đang tàng trữ trong túi quần phía sau bên phải 06 gói giấy kẻ ôli bên trong chứa chất bột màu trắng. Đặng Minh T khai nhận đó là ma túy Heroine, mục đích mua về để sử dụng.

Vật chứng, đồ vật thu giữ gồm: 06 gói giấy chứa chất bột màu trắng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12S1-066.29; 01 điện thoại di động, mặt trước có chữ FPT; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001271 biển kiểm soát 12S1-066.29 mang tên Lộc Anh T2; 01 Giấy chứng minh nhân dân số 080928929 mang tên Đặng Minh T. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Minh T không thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan.

Kết luận giám định số 317/KL-PC09, ngày 23/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Chất bột màu trắng (thu giữ của Đặng Minh T) gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,294 gam (đã trừ bì)”.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Minh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Do sử dụng chất ma túy, nên Đặng Minh T thường ra khu vực ngã ba M, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn mua ma túy với người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi, mỗi lần mua từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng. Lần gần đây nhất là khoảng 11 giờ, ngày 22/9/2021, Đặng Minh T mượn xe mô tô, biển kiểm soát 12S1-066.29 của Lành Thị D, đi từ nhà đến ngã ba M, xã T, huyện V, gặp người đàn ông Đặng Minh T vẫn thường mua ma túy và mua với người này 06 gói ma túy Heroine giá 600.000 đồng. Đặng Minh T gói số ma túy vừa mua được vào tờ giấy vệ sinh (đã chuẩn bị từ trước) cất vào túi quần phía sau bên phải, sau đó điều khiển xe mô tô đi về nhà, khi đến km 32 + 200 thuộc địa phận phố T, thị trấn V, huyện V thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Ngày 11/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Văn Quan đã trả lại chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 12S1-066.29 cùng giấy tờ xe cho chủ sở hữu Lành Thị D do không liên quan đến vụ án. Các vật chứng, đồ vật khác trong vụ án chưa xử lý.

Với hành vi như trên tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSVQ, ngày 24/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đặng Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo Đặng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong có 01 gói giấy chứa 0,222 gam ma túy Heroine (còn lại sau giám định); trả lại cho bị cáo Đăng Minh T 01 Giấy chứng minh nhân dân số 080928929; 01 điện thoại di động màu đen có viền màu đỏ, loại máy bàn phím bấm, mặt trước có chữ FPT không liên đến hành vi phạm tội nhưng Đặng Minh T đề nghị sung quỹ Nhà nước nên tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.

Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với ý kiến của Kiểm sát viên không có ý kiến tranh luận gì và tại lời nói sau cùng chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thành phần tham gia tố tụng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra có tạm giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12S1-066.29 của chị Lành Thị D. Tuy nhiên, quá trình điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội, nên đã trả lại cho chị Lành Thị D và chị Lành Thị D không có ý kiến, không có yêu cầu gì khác nên xét thấy không cần đưa chị Lành Thị D vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng Minh T đều khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, cụ thể: Hồi 14 giờ 15 phút, ngày 22/9/2021, tại km 32 + 200 quốc lộ 1B thuộc địa phận phố T, thị trấn V, huyện V, bị cáo đã bị tổ công tác Công an huyện Văn Quan bắt quả tang khi đang tàng trữ trong túi quần phía sau bên phải 06 gói giấy kẻ ôli bên trong chứa chất bột màu trắng. Theo kết luận giám định “Chất bột màu trắng (thu giữ của Đặng Minh T) gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,294 gam (đã trừ bì)”, số ma túy này bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng vì là đối tượng nghiện ma túy. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, vi phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Hơn nữa ma túy là chất gây nghiện cao, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, nòi giống con người, gây thiệt hại về kinh tế và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức án nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Ngoài lần phạm tội này, năm 2011 bị cáo đã bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, năm 2014 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản chưa thi hành. Ngoài ra năm 2007, năm 2009, năm 2016 bị cáo đã từng bị xét xử về hành vi Trộm cắp tài sản và Cưỡng đoạt tài sản đã được xóa án tích nên bị cáo là người có nhân thân xấu.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bố của bị cáo là ông Đặng Thanh T1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Năm 2011 bị cáo bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản chưa thi hành xong phần bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên thấy rằng khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân dẫn đến nghiện ma túy và phạm tội. Do đó, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là chưa tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo thực hiện, chưa đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử sẽ ấn định mức hình phạt cao hơn mức Kiểm sát viên đề nghị.

Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Quan ngày 28/10/2021 thì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo vì không đảm bảo thi hành án.

Vật chứng của vụ án là 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong có 01 gói giấy chứa 0,222 gam ma túy Heroine (còn lại sau giám định) Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động màu đen có viền màu đỏ, loại máy bàn phím bấm, mặt trước có chữ FPT không liên quan đến việc phạm tội nhưng bị cáo không yêu cầu trả lại mà tự nguyện sung ngân sách Nhà nước nên Hội đồng xét xử sẽ tuyên tịch thu; 01 Giấy chứng minh nhân dân số 080928929 mang tên Đặng Minh T là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên trả cho bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xe mô tô biển kiểm soát 12S1-066.29 của Lành Thị D, khi cho bị cáo mượn chị Lành Thị D không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Lành Thị D là có căn cứ nên không xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đặng Minh T tại khu vực ngã ba M, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, do không có đủ thông tin nên không thể điều tra xác minh để xử lý.

Án phí và quyền kháng cáo: Do bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T (Đặng Văn T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Minh T 02 năm 06 tháng tù (Hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2021.

3. Xử lý vật chứng

3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong có 01 gói giấy chứa 0,222 gam ma túy Heroine (còn lại sau giám định).

3.2. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động màu đen có viền màu đỏ, loại máy bàn phím bấm, mặt trước có chữ FPT.

3.3. Trả lại cho bị cáo Đặng Minh T 01 Giấy chứng minh nhân dân số 080928929 mang tên Đặng Minh T.

(Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn).

4. Án phí: Bị cáo Đặng Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ