vanban.org

Bản án 26/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Tuyên án 10/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Phạm Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù.

Vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của các bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư số 463/GĐKTHS. (Vật chứng trên đây có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa CQCSĐT …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Phạm Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 26/2021/HS-ST
Ngày 10 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễ Văn Thành

Bà Đoàn Thị Dịu

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2021/TLST- HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 5 năm 2021, đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm 2001 tại Nam Định.

Nơi ĐKHKTT: xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm 7, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh: Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn U; Con bà: Phạm Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/4/2021 đến ngày 14/4/2021 và bị tạm giam từ ngày 14/4/2021 đến nay. Có mặt

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Q; Anh Lưu Văn S. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/4/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy và biết ở khu vực cầu Chân Chim thuộc khu vực xóm 15, xã Trực Thái, huyện Trực Ninh có người bán ma túy, Phạm Văn T mang theo 300.000đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius BKS 18B1 557.79 từ nhà đến khu vực cầu Chân Chim mục đích để mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, T thấy một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết đứng một mình ở mép đường, nghĩ người này bán ma túy nên lại hỏi “Có đá không để em ba trăm”. Hiểu ý T, người đàn ông này đồng ý bán và cầm tiền rồi đưa cho T 01 gói ma túy đá gói bằng túi nilong trắng. T nhận gọi ma túy rồi kiểm tra, sau đó cầm ở tay trái rồi quay xe về để tìm nơi sử dụng.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, T về đến đoạn đường dong xóm thuộc xóm 3, xã Trực Thái, huyện Trực Ninh thì bị Công an huyện Trực Ninh dừng xe kiểm tra. T liền thả gói ma túy đang cầm ở tay xuống nền mặt đường cạnh nơi T dừng xe thì bị Công an huyện Trực Ninh bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- Thu tại nền đường dong xóm 3, xã Trực Thái 01 gói nhỏ bằng nilon màu trắng mở ra bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng cạnh vị trí T dừng xe khi bị kiểm tra. T tự giác khai nhận đây là gói ma túy đá T vừa mua, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Cơ quan công an đã thu giữ, niêm phong gói ma túy của T, kí hiệu M.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius BKS 18B1 557.79.

Bản kết luận giám định số 463/GĐKTHS ngày 09/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định xác định: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói nilon màu trắng được niêm phong trong bì thư, ký hiệu M, gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Methamphetamin. Khối lượng mẫu M: 0,194 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2021 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 BLHS. Căn cứ khoản 1 Điều 249 BLHS , điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 15 - 18 tháng tù.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đều hợp pháp.

Về quan điểm Đại diện VKS tại phần thủ tục tranh luận: HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng và đều giữ nguyên quan điểm truy tố. Quan điểm của đại diện VKS đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ trực tiếp xâm hại tới trật tự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý - là quan hệ xã hội thuộc khách thể đã được BLHS ghi nhận và bảo vệ. Bị cáo đều thừa nhận vật chứng mà Cơ quan CSĐT đã thu giữ là ma túy, bị cáo vừa mua về tàng trữ trái phép để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra.

Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản ghi lời khai người làm chứng; Kết luận giám định.

Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamin) ngày 08/4/2021 của bị cáo Phạm Văn T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Ma tuý là một trong nguyên nhân phát sinh tình hình tội phạm, trực tiếp ảnh hưởng tới sức khoẻ, kinh tế của bản thân, của gia đình bị cáo và của toàn xã hội, là tệ nạn đã và đang bị toàn xã hội lên án mạnh mẽ. Chính vì thế Nhà nước - thông qua hệ thống pháp luật đã nghiêm cấm hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã nhận thức được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.

Việc VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Phạm Văn T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản Cáo trạng số 28/QĐ - VKS ngày 20 tháng 5 năm 2021, là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra, xét nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tương đối nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tác dụng giáo dục phòng ngừa chung tình hình tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới tình tiết: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo tuổi đời còn trẻ cũng cần tạo điều kiện cho bị cáo co cơ hội cải tạo, làm lại cuộc đời - Để giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án là những vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy, sung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius biển kiểm soát 18B1 557.79 là tài sản của anh Phạm Văn H, sinh năm 1991, trú tại: Xóm 7, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (anh họ của bị cáo T). Bị cáo mượn xe của anh H từ sáng ngày 08/4/2021. Anh H không biết T sử dụng xe để đi mua ma túy nên CQĐT đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh H. Xét thấy việc xử lý vật chứng của CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T ở khu vực cầu Chân Chim, T không tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác minh được ai nên không đủ căn cứ để xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt Phạm Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 4 năm 2021.

2. Vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của các bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư số 463/GĐKTHS. (Vật chứng trên đây có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ngày 20 tháng 5 năm 2021).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo Phạm Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ