- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn C và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội Dnh:
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2021/HS-ST Ngày 27-12-2021. |
NHÂN DNH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền.
2. Bà Mai Thị Hoài Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn C (tên gọi khác: Lò Văn Ch), sinh năm 1996 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn N (đã chết) và con bà: Lò Thị N - sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 26/5/2021, đến ngày 04/6/2021 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Tân Uyên đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lò Văn Ph, tên gọi khác: Không, sinh năm 1975 tại huyện S, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn E(đã chết) và con bà: Lò Thị P - sinh năm 1936; vợ: Lò Thị D - sinh năm 1976; con: Có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 23/4/2021, đến ngày 02/5/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Sìn Hồ đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Lù Văn H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1988 tại thị xã M tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản H, xã L, thị xã M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lù Văn Đ - sinh năm 1968 và con bà: Lò Thị Ch - sinh năm 1967; vợ: Lò Thị A - sinh năm 1988; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 23/4/2021, đến ngày 02/5/2021 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Tân Uyên đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Lò Văn P, sinh năm 1985
Trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu.
2. Anh Lò Văn M, sinh năm 1974.
3. Anh Lò Văn H, sinh năm 1983.
4. Anh Lường Văn B, sinh năm 1981.
Cùng trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Lù Thị Ch, sinh năm 1992.
Trú tại: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991.
Trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu.
3. Chị Lò Thị D, sinh năm 1976.
Trú tại: Bản H, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
4. Chị Lò Thị P, sinh năm 1990.
Trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu.
- Người phiên dịch tiếng Thái: Ông Lò Văn Thắm - Sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 26, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên - Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 22/4/2021 Lò Văn Ph điều khiển xe mô tô đi từ nhà ở lên bản Hoàng Hồ, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine mang về bán kiếm lời. Tại đây Ph gặp và mua được của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tên là Xoang 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu đen với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, Xoang đi đâu Ph không biết, còn Ph cầm ở tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến nhà Ph trích lấy một ít sử dụng, số Heroine còn lại Ph gói lại rồi cất giấu vào khe của bao thóc gần giường ngủ tại lán ruộng không cho ai biết, mục đích để bán kiếm lời.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, Lò Văn C đi lên bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Tại bản Nậm Há, C gặp và mua của 01 người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tên là Xuân được 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh giấy màu trắng với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua bán Heroine xong C đi bộ đến nhà bác họ tại bản Nậm Há, xã Noong Hẻo để chơi. Tại đây, C lấy 01 ít Heroine ra sử dụng bằng hình thức chích, sau đó C nhặt 01 mảnh nilon màu hồng gói toàn bộ số Heroine còn lại vào rồi cất trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, mục đích để bán kiếm lời.
Lù Văn H biết gia đình anh Lường Văn B, sinh năm 1981, trú tại bản Nà Ngò, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu có lán ruộng thuộc khu vực bản Hua Ngò, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định để trộm cắp tài sản mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, H mượn xe mô tô nhãn hiệu HOND số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25U1-319.09 của chị Lò Thị P và điều khiển xe đi lên lán ruộng của gia đình anh B. Tại đây, H đã trộm cắp 05 con gà (trong đó 01 con gà trống màu lông đỏ-đen và 02 con gà mái màu lông vàng, 01 con gà mái màu lông đỏ, 01 con gà mái màu lông đen) có tổng trọng lượng là 7kg rồi mang đi bán cho chị Lù Thị Ch, sinh năm 1992, trú tại bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu được số tiền 580.000 đồng (trong đó có 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 08 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng). Sau đó, H sang nhà bên cạnh nhà chị Ch chơi thì gặp Lò Văn C. Tại đây, H nhìn thấy C có 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu hồng để bên trong lớp nilon màu trắng bên ngoài vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng nên H hỏi mua và lấy số tiền 100.000 đồng (trong đó có 04 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng) đưa cho C, C cầm tiền cất vào túi quần C đang mặc rồi lấy 01 ít Heroine cho vào bơm kim tiêm của H mang theo rồi đưa cho H sử dụng bằng hình thức chích. Khoảng 20 phút sau do không đủ liều H tiếp tục hỏi mua Heroine của C lần thứ hai và đưa số tiền 60.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng), C cầm tiền rồi lấy Heroine ra tiếp tục bán cho H, sau đó C, H cùng nhau sử dụng hết bằng hình thức chích. Sử dụng Heroine xong, C hỏi H thì biết được H vừa trộm cắp gà tại lán của nhà anh B mang đi bán nên C rủ H tiếp tục đi trộm cắp tài sản tại lán của B mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, H nhất trí nên C nhặt 02 bao tải xác rắn (01 bao tải màu xanh, 01 bao tải màu cam). Sau đó, H điều khiển xe mô tô chở C đi về xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, trên đường đi C bảo H điều khiển xe vào nhà Lò Văn Ph để C hỏi bán lợn. Tại đây, C hỏi thì Ph nói đang cần mua 01 lợn để làm “lý” cho gia đình. Sau đó C hỏi và mua được của Ph 01 gói Heroine không nhớ đặc điểm với giá 100.000 đồng rồi mang ra ngoài sử dụng, còn H đi sang lán ruộng gặp và mua được của vợ Ph là Lò Thị D 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng rồi mang ra ngoài sử dụng hết. Tiếp đó, H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở C đến lán ruộng của gia đình anh B để trộm cắp tài sản. Tại đây, H và C đã trộm cắp 01 con lợn cái nhỏ, màu lông đen, khoang trắng có trọng lượng 11kg rồi cho vào bao tải màu xanh và 03 con gà (trong đó 01 con gà trống màu đỏ vàng, 01 con gà mái màu đỏ vàng, 01 con gà mái màu lông đen) có tổng trọng lượng 5,6kg rồi đựng vào bao tải màu cam. Sau khi trộm cắp được tài sản, C điều khiển xe mô tô chở H và tài sản trộm cắp được đến lán ruộng của Lò Văn Ph. Tại đây, H đứng ngoài không trực tiếp giao dịch mua bán lợn, C và Ph thống nhất không cân con lợn và tính giá con lợn là 1.000.000 đồng, Ph nhất trí nhưng không có tiền nên nói với C “Bây giờ không có tiền, chỉ có 200.000 nghìn thôi, có đổi không?” (tức đổi Heroine), C nhất trí nên Ph gọi cho Lò Thị D đang ngủ trong buồng dậy để đưa cho C 200.000 đồng. Khi Ph gọi D dậy đưa tiền thì H ở ngoài nghe thấy nên đã tự ý đến chỗ D cầm số tiền 200.000 đồng, còn Ph đi đến chỗ để mấy bao thóc của ra đình lấy ra 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu đen, Ph trích 01 phần Heroine ra rồi gói lại bên ngoài bằng mảnh nilon màu đen đưa cho C (số Heroine này Ph quy ra tiền là 800.000 đồng), phần Herroine còn lại Ph gói thành 01 gói và gói bằng mảnh nilon màu hồng cất vào khe bao tải, mục đích để bán kiếm lời. C cầm lấy gói Heroine của Ph đưa chia cho H 01 nửa. Sau đó, C, H đi ra ngoài trích 01 phần Heroine ra sử dụng (của ai người đó sử dụng), sau khi sử dụng Heroine xong, C tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H đi lên bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ để bán gà nH do đêm đã khuya nên C và H xin ngủ nhờ nhà người quen của C tại bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ. Đến khoảng 06 giờ ngày 23/4/2021, H mang gà sang bán cho Lù Thị Ch trước còn C đi vào sau. Tại đây, qua trao đổi, thống nhất, H bán số gà trên cho Ch được số tiền 440.000 đồng, Ch đưa cho H số tiền 220.000 đồng, đưa cho C số tiền 220.000 đồng. Sau khi bán được gà H đi mua thuốc lá, mua xăng xe và mua một số đồ dùng khác rồi điều khiển xe mô tô đi về xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên còn C đi đâu không rõ, trên đường về H lấy gói Heroine ra trích lấy một phần cho vào bơm kim tiêm sử dụng dọc đường, phần Heroine còn lại H gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng cất vào trong túi áo khoác bên trái trước ngực rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô về nhà. Đến hồi 08 giờ 30 phút ngày 23/4/2021, Lù Văn H điều khiển xe đến bản Nà Ngò, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Lù Văn H bên ngoài được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng trắng có khối lượng 0,11 gam; ngoài ra còn số tiền 420.000 đồng; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 11 điếu thuốc lá; 01 bơm kim tiêm màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động Masstel màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu HOND số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25U1-319.09.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn Ph về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Quá trình thi hành lệnh khám xét phát hiện thu giữ của Lò Văn Ph 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,87 gam, được Ph cất giấu tại khe của các bao thóc cạnh giường ngủ của Ph và 01 con lợn cái màu lông đen, khoang trắng có trọng lượng 11kg theo Ph khai là con lợn mà C đã đổi Heroine của Ph.
Lò Văn C sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 26/5/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn C về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 23/4/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Kết quả: 01 gói chất bột, màu trắng bên ngoài được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, trắng thu giữ của Lù Văn H có khối lượng là 0,11 gam. 01 gói chất bột, màu trắng bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng thu giữ của Lò Văn Ph có khối lượng là 0,87 gam.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên gửi toàn bộ 0,11 gam chất bột màu trắng thu giữ của Lù Văn H và trích 0,21 gam chất bột màu trắng trong tổng số 0,87 gam chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn Ph, theo H và Ph khai nhận là Heroine gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 310/GĐ-KTHS, ngày 29/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận “02 (hai) mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.
Tại bản kết luận giám định số 309/KLGĐ-TL ngày 30/4/2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận “ Số tiền 420.000 đồng” thu giữ của Lù Văn H gửi giám định đều là tiền thật.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 29/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Uyên kết luận: 01 con lợn cái màu lông đen, khoang trắng có trọng lượng 11kg có trị giá 2.530.000 đồng; 03 con gà có trọng lượng 5,6kg có trị giá 672.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 3.202.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12 ngày 29/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Uyên kết luận: 05 con gà có tổng trọng lượng 07kg có trị giá là 840.000 đồng.
Ngoài ra, tại cơ quan điều tra, Lù Văn H và Lò Văn C còn khai nhận trước đây đã cùng nhau thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ, tháng 03/2021 (không nhớ ngày cụ thể), Lù Văn H và Lò Văn C cùng nhau trộm cắp 01 đầu máy nổ, loại máy 8, màu sơn đỏ, không rõ nhãn hiệu của gia đình anh Lò Văn P, sinh năm 1985, trú tại bản Nà Lào, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên có trị giá 1.500.000 đồng rồi cùng nhau đem bán cho chị Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1991, trú tại bản Nà Ngò, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên với giá 350.000 đồng. Số tiền này H, C đã chia nhau tiêu sài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Khoảng 00 giờ tháng 03/2021 (không nhớ rõ ngày cụ thể) Lù Văn H đã trộm cắp 01 con gà mái lông màu sẫm vàng có trọng lượng 1,2 kg có trị giá là 144.000 đồng và 01 con lợn đực, màu lông đen có trọng lượng 09kg có trị giá là 855.000 đồng, tổng trị giá là 999.000 đồng của anh Lò Văn M, sinh năm 1974, trú tại bản Nà Ngò, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên rồi cùng C mang lên khu vực Bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ bán cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tổng số tiền là 800.000 đồng. Sau đó H và C chia nhau mỗi người số tiền 400.000 đồng và đã tiêu sài hết.
Lần thứ ba: Khoảng 22 giờ tháng 03/2021 (không nhớ rõ cụ thể ngày) Lù Văn H và Lò Văn C cùng nhau đi trộm cắp tài sản tại lán ruộng của anh Lò Văn Hại, sinh năm 1983, trú tại bản Nà Ngò, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên được 13 con gà (04 con gà trống, 09 con gà mái) có trị giá là 1.560.000 đồng rồi sau đó mang lên khu vực xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ bán 12 con gà bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) số tiền 1.200.000 đồng, còn 01 con gà bị chết nên H và C đã mổ thịt ăn. Sau đó H và C chia nhau mỗi người số tiền 600.000 đồng đã tiêu xài hết.
Trong quá trình điều tra, Lò Văn C còn khai nhận trước đây C đã một mình thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng tháng 3/2021 (không nhớ ngày cụ thể) Lò Văn C đã trộm cắp được 01 con lợn cái màu lông đen có trọng lượng khoảng 03 kg tại khu vực lán ruộng không rõ của ai thuộc bản Nậm Sỏ, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên sau đó đem bán cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ được số tiền 250.000 đồng. Sau đó số tiền này C đã tiêu sài hết.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ, tháng 4/2021 (không nhớ rõ ngày cụ thể) tại khu vực bản Nà Lào, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, Lò Văn C đã trộm cắp được 02 hộp gỗ Pơ mu hình tròn có đường kính khoảng 60 cm, dài khoảng 1,5m không rõ chủ tài sản là ai sau đó mang lên bán cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại bản Nậm Cuổi, xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ với giá 1.500.000 đồng. Số tiền này C đã tiêu sài hết.
Đối với 02 lần trộm cắp này của C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã ra thông báo truy tìm bị hại nhưng đến nay chưa có kết quả nên chưa có căn cứ để tiến hành định giá để xử lý Lò Văn C theo quy định của pháp luật.
Lần thứ ba: Ngày 26/5/2021 Lò Văn C đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 máy cắt cầm tay, 01 dây hàn tại công trường thuộc xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Sau đó Lò Văn C bị Công an xã San Thàng, thành phố Lai Châu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
* Vật chứng của vụ án gồm:
- Vật chứng thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lù Văn H: 0,11 gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định và số tiền 420.000 đồng; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 11 điếu thuốc lá; 01 bơm kim tiêm màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong và 01 xe mô tô nhãn hiệu HOND số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25U1-319.09, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
- Vật chứng thu giữ của Lò Văn Ph trong quá trình khám xét khẩn cấp: 0,87 gam Heroine, đã trích 0,21 gam gửi giám định, còn lại 0,66 gam; 01 con lợn cái màu lông đen, khoang trắng có trọng lượng 11kg.
- Vật chứng thu giữ của Lò Thị Ch: 07 con gà (trong đó 03 con gà mái lông màu vàng, 02 con gà mái lông màu đen và 01 gà trống màu lông đỏ vàng và 01 con gà mái màu lông đỏ vàng).
Ngày 04/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã trả lại 01 con lợn cái màu lông đen, khoang trắng có trọng lượng 11kg, 07 con gà (trong đó 03 con gà mái lông màu vàng, 02 con gà mái lông màu đen và 01 gà trống màu lông đỏ vàng và 01 con gà mái màu lông đỏ vàng) cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lường Văn B.
Ngày 20/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lò Thị P.
* Về phần dân sự:
Bị hại Lường Văn B yêu cầu bị cáo Lò Văn C, Lù Văn H liên đới bồi thường số tiền 200.000 đồng; Bị hại Lò Văn M yêu cầu các bị cáo C, H liên đới bồi thường số tiền 999.000 đồng; Lò Văn P yêu cầu các bị cáo C, H liên đới bồi thường số tiền 1.500.000 đồng và bị hại Lò Văn Hại yêu cầu bị cáo C và H liên đới bồi thường số tiền 1.560.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lù Thị Ch yêu cầu bị can H hoàn trả số tiền 600.000 đồng, C hoàn trả số tiền 220.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 89/CT -VKS - TU, ngày 02/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lò Văn C về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Lò Văn Ph về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Lù Văn H về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn đề nghị giữ nguyên phần tội Dnh của các bị cáo như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt chính:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chịu từ 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn Ph từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lù Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chịu từ 02 năm đến 02 năm 9 tháng tù.
* Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 các Điều 173, 249 và 251 miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 579, 580, 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự.
Đề nghị buộc các bị cáo Lò Văn C, Lù Văn H liên đới bồi thường: số tiền 200.000 đồng cho bị hại Lò Văn B, số tiền 999.000 đồng cho bị hại Lò Văn M, số tiền 1.500.000 đồng cho bị hại Lò Văn Phanh và số tiền 1.560.000 đồng cho bị hại Lò Văn Hại.
Đề nghị buộc bị cáo Lù Văn H hoàn trả số tiền 600.000 đồng, bị cáo Lò Văn C hoàn trả trả số tiền 220.000 đồng cho chị Lù Thị Ch.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư làm bằng bì thư Công văn của Công an huyện Tân Uyên bên trong đựng 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 11 điếu thuốc lá; 01 bơm kim tiêm màu trắng thu giữ của Lù Văn H; 01 bì thư làm bằng bì thư Công văn của Công an huyện Tân Uyên bên trong đựng 0,66 gam Heroine thu giữ của Lò Văn Ph là vật Nhà nước cấm lưu hành. Trả lại cho Lù Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 420.000 đồng thu giữ của Lù Văn H.
* Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo H, C mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các bị cáo đều đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Người liên quan chị Lò Thị D không có yêu cầu gì đối với bị cáo H và C.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Lù Văn H, Lò Văn C, Lò Văn Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 23/4/2021 tại bản Nà Ngò, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, Lù Văn H đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,11 gam mục đích sử dụng thì bị Công an huyện Tân Uyên phát hiện bắt quả tang.
Khoảng 21 giờ ngày 22/4/2021, tại bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Lò Văn C đã có hành vi bán trái phép cho Lù Văn H 02 lần Heroine với tổng số tiền 160.000 đồng.
Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 23/4/2021, tại bản Hua Cuổi, xã Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ, Lò Văn Ph đã có hành vi bán trái phép cho Lò Văn C 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu đen với giá 800.000 đồng (Mua được số Heroine trên, C đã chia đôi cho H 01 nửa, C đã sử dụng hết phần của C, H sử dụng phần của H còn 0,11 gam thì bị phát hiện thu giữ). Ngoài ra, trong quá trình khám xét khẩn cấp tại nhà của Lò Văn Ph còn phát hiện thu giữ 0,87 gam Heroine theo Ph khai nhận tàng trữ nhằm mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng Heroine mà Ph phải trách nhiệm hình sự là 0,98 gam.
Ngày 22/4/2021, tại bản Hua Ngò, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, Lù Văn H và Lò Văn C đã trộm cắp 01 con lợn cái, màu lông đen, khoang trắng có trọng lượng 11kg có trị giá 2.530.000 đồng và 03 con gà (trong đó 01 con gà trống màu đỏ vàng, 01 con gà mái màu đỏ vàng, 01 con gà mái màu lông đen) có tổng trọng lượng 5,6kg có trị giá là 672.000 đồng, tổng trị giá tài sản là 3.202.000 đồng của anh Lường Văn B, mục đích mang bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.
Các bị cáo đều là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, bị cáo H, C còn xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Ph đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Xét thấy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo Ph từng tham gia quân ngũ và được tặng Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Lù Văn H trong quá trình điều tra đã tự khai nhận các hành vi phạm tội trước đó nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, bị cáo Lò Văn C là người rủ rê, khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do vậy phải chịu trách nhiệm với vai trò chính. Bị cáo Lù Văn H là đồng phạm giúp sức tích cực và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm tương xứng với vai trò của mình được quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo C phải chịu từ 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù; Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn Ph từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo Lù Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo H phải chịu từ 02 năm đến 02 năm 9 tháng tù. Xét thấy đề nghị về phần hình phạt đối với các bị cáo C, Ph là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần chấp nhận, riêng bị cáo H tàng trữ Heroine với khối lượng nhỏ (0,11 gam), bị cáo H được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là quá nghiêm khắc đối với bị cáo H, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo làm ruộng thu nhập thấp và không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Số tiền 420.000 đồng thu giữ của bị cáo Lù Văn H do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel thu giữ của Lù Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần xem xét trả lại cho bị cáo H.
- 0,66 gam Heroine còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 mảnh nilon màu hồng; 01 bao thuốc lá hiệu Thăng Long vỏ màu vàng bên trong có 11 điếu thuốc; 01 bơm kim tiêm màu trắng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo H, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HOND số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25U1-319.09, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị P, chị P cho H mượn xe và không biết H dùng xe vào việc phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã trả lại chiếc xe trên cho chị P là đúng quy định. Chị Lò Thị P đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bị hại Lường Văn B yêu cầu bị cáo Lò Văn C, Lù Văn H liên đới bồi thường số tiền 200.000 đồng; Bị hại Lò Văn M yêu cầu các bị cáo C, H liên đới bồi thường số tiền 999.000 đồng; Lò Văn P yêu cầu các bị cáo C, H liên đới bồi thường số tiền 1.500.000 đồng và bị hại Lò Văn Hại yêu cầu bị cáo C và H liên đới bồi thường số tiền 1.560.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của những người bị hại là có cơ sở. Tại phiên tòa, các bị cáo H, C đều nhất trí liên đới bồi thường thiệt hại toàn bộ số tiền trên cho những người bị hại. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo H, C liên đới bồi thường toàn bộ số tiền trên cho các bị hại.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lù Thị Ch yêu cầu bị cáo H hoàn trả số tiền 600.000 đồng, C hoàn trả số tiền 220.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của chị Ch là có cơ sở vì chị Ch mua tài sản của các bị cáo nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có, hiện tại số tài sản trên đã bị Cơ quan CSĐT thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579; Điều 580 Bộ luật Dân sự cần xem xét buộc bị cáo Lù Văn H phải hoàn trả cho chị Lù Thị Ch số tiền 600.000 đồng, buộc bị cáo Lò Văn C phải hoàn trả cho chị Lù Thị Ch số tiền 220.000 đồng.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, riêng bị cáo cáo H, C còn phải chịu thêm án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
- Về nguồn gốc số Heroine Lù Văn H khai cùng Lò Văn C trộm cắp lợn mang đi đổi Heroine của Lò Văn Ph rồi được C chia Heroine cho. Quá trình điều tra, C không thừa nhận số Heroine thu giữ của H là do C cho, ngoài lời khai duy nhất của H không còn chứng cứ nào khác để chứng minh C chia Heroine cho H. Vì vậy, không đủ căn cứ xử lý đối với Lò văn C về hành vi này.
- Về nguồn gốc số Heroine Lò Văn Ph khai mua được của 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tên Xoang tại bản Hoàng Hồ, thị trấn Sìn Hồ. Quá trình điều tra không định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
- Về nguồn gốc số Heroine Lò Văn C khai mua của 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tên Xuân tại bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ. Quá trình điều tra không định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
- Trong vụ án này, Lù Văn H khai ngày 22/4/2021, tại lán ruộng của Lò Văn Ph, H mua được 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh của Lò Thị D (vợ Ph) với giá 100.000 đồng. Quá trình điều tra, D không thừa nhận, ngoài lời khai duy nhất của H không còn chứng cứ nào khác để chứng minh việc D bán Heroine cho H. Vì vậy, không đủ căn cứ xử lý đối với Lò Thị D về hành vi này.
- Trong vụ án này, Lò Văn C khai ngày 22/4/2021, tại lán ruộng của Lò Văn Ph, C mua được 01 gói Heroine không rõ đặc điểm của Lò Văn Ph với giá 100.000 đồng. Quá trình điều tra, Ph không thừa nhận, ngoài lời khai duy nhất của C không còn chứng cứ nào khác để chứng minh việc Ph bán Heroine cho C. Vì vậy, không đủ căn cứ xử lý đối với Lò Văn Ph về hành vi này.
- Trong vụ án này Lù Thị Ch, Lò Văn Ph, Nguyễn Thị H là người đã mua tài sản do H và C trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác định, Ch, Ph, Hồng không biết đó là tài sản trộm cắp mà có nên không đủ căn cứ xử lý.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lù Văn H, Lò Văn C và Lò Văn Ph, Công an huyện Tân Uyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
- Đối với các hành vi trộm cắp tài sản của Lò Văn C, Lù Văn H chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Tân Uyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
- Trong vụ án này, Lò Văn C còn khai nhận đã trộm cắp tài sản gồm 01 con lợn cái màu lông đen có trọng lượng khoảng 03 kg tại khu vực lán ruộng không rõ của ai thuộc bản Nậm Sỏ, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên trong khoảng tháng 3/2021 và 02 hộp gỗ Pơ mu hình tròn có đường kính khoảng 60 cm, dài khoảng 1,5m tại khu vực bản Nà Lào, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, Lò Văn C trong khoảng tháng 4/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã thông báo truy tìm bị hại nH chưa xác định được bị hại. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã tách hành vi này khi nào xác định được bị hại sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
- Đối với những người mua tài sản do phạm tội mà có của H và C nhưng không rõ nhân thân, lai lịch. Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
- Đối với chị Lò Thị P là người cho Lù Văn H mượn xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định chị P không biết nên không đủ căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội Dnh:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C (tên gọi khác Lò Văn Chó) 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Lò Văn C phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2021.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Ph 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ (từ ngày 23/4/2021 đến ngày 02/5/2021) còn phải chấp hành 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lù Văn H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Lù Văn H phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 01 (một) năm 11 (mười một) tháng, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2021.
- Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Lò Văn Ph, Lò Văn C.
- Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lù Văn H.
- Áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Lù Văn H, Lò Văn C.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579; Điều 580; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
+ Buộc bị cáo Lù Văn H, Lò Văn C phải liên đới bồi thường cho:
1. Anh Lò Văn P, sinh năm 1985. Trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).
2. Anh Lò Văn M, sinh năm 1974. Trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu số tiền 999.000 đồng (chín trăm chín mươi chín nghìn đồng).
3. Anh Lò Văn Hại, sinh năm 1983. Trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu số tiền 1.560.000 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
4. Anh Lường Văn B, sinh năm 1981. Trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
+ Buộc bị cáo Lù Văn H phải hoàn trả cho chị Lù Thị Ch, sinh năm 1992. Trú tại: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
+ Buộc bị cáo Lò Văn C phải hoàn trả cho chị Lù Thị Ch, sinh năm 1992. Trú tại: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu số tiền 220.000 đồng (hai trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 420.000 đồng thu giữ của Lù Văn H. Vật chứng được niêm phong theo đúng quy định.
- Trả lại cho bị cáo Lù Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, số IMEL 1: 355767049459147 và số IMEL 2: 355767049459154, điện thoại đã qua sử dụng.
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ 01 (một) bì thư làm bằng phong bì thư của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu bên trong đựng 0,66 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng. Vật chứng được niêm phong theo đúng quy định pháp luật.
+ 01 (một) bì thư làm bằng phong bì thư của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu bên trong đựng 01 bao thuốc lá hiệu Thăng Long vỏ màu vàng bên trong có 11 điếu thuốc.
+ 01 bơm kim tiêm màu trắng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo B bản giao nhận vật chứng hồi 8 giờ 00 phút, ngày 24/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lù Văn H, Lò Văn C và Lò Văn Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo Lù Văn H, Lò Văn C mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; Bị hại. - Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |