vanban.org

Bản án 26/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 25/03/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận nội dung háng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2020/HSST ngày 30/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện K về mức hình phạt đối với bị cáo Ngô Thị Huyền T.

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Huyền T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Về hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Ngô Thị Huyền T trong thời hạn 24 tháng ể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Huyền T phạm tội"Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận nội dung háng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2020/HSST ngày 30/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện K về mức hình phạt đối với bị cáo Ngô Thị Huyền T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 26/2021/HS-PT
Ngày: 05-3-2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Đào

Các thẩm phán:

Ông Bùi Đình Thông

Bà Trần Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Hạnh, Thư ý T a án nh n d n t nh Hà T nh

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Bà Đặng Thị T m.

Trong các ngày 3/3 và 5/3/2021, tại Hội trường xét xử Toà án nh n d n t nh Hà T nh mở phiên t a công hai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 154/2021/HSPT ngày 18/12/2020.

Do có háng cáo của bị cáo Ngô Thị Huyền T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2021/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Toà án nh n d n huyện K, t nh Hà T nh.

* Bị cáo kháng cáo: Họ và tên: Ngô Thị Huyền T; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 07 tháng 6 năm 1986; Nơi đăng ý NKTT và chỗ ở hiện nay: số nhà 17a, ngõ 13, đường N, khối phố 1, phường N, thành phố H; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: nh n viên Công ty xăng dầu Hà T nh ; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Ngô Xuân T Sinh năm: 1962, nghề nghiệp: hưu trí; Con bà: Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1962, nghề nghiệp: hưu trí; Cả hai đều trú tại: phường Bắc Hà, thành phố Hà T nh, t nh Hà T nh; Anh, chị, em: có 03 người (bị cáo là con thứ hai); Chồng: Trần Hùng D, Sinh năm: 1981, nghề nghiệp: Lao động tự do, trú tại: Khối phố 1, phường Nam Hà, thành phố Hà T nh, t nh Hà T nh; Con: 02 đứa (đứa lớn sinh năm 2011; đứa nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện K, t nh Hà T nh ra lệnh cấm đi hỏi nơi cư trú từ ngày 25/02/2020 đến nay; có mặt tại phiên t a.

*Bị cáo không kháng cáo: Họ và tên: Ngô Minh C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1982; Nơi đăng ý NKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 9, phường T, thành phố H, t nh Hà T nh; Vắng mặt.

* Đại diện gia đình người bị hại không kháng cáo:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (Đại diện cho nạn nhân chị Nguyễn Thị H); Địa ch : Thôn Tuần Tượng, xã Kỳ Phong, huyện K, t nh Hà T nh; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Thái T, sinh năm 1985 (Đại diện cho nạn nhân chị Lê Hải T); Địa ch : Thôn K, xã K, huyện K, t nh Hà T nh; vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

1. Chị Phạm Thị P, sinh năm 1979; Địa ch : Khối phố 8, phường Nam Hà, thành phố Hà T nh, t nh Hà T nh; vắng mặt.

2. Anh Bùi Xuân V, sinh năm 1991; Địa ch : Thôn Hợp Tiến, xã Kỳ Bắc, huyện K, t nh Hà T nh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm của T a án nh n d n huyện K, t nh Hà T nh và các tài liệu có tại hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

Vào hoảng 10h ngày 11/02/2020, Ngô Minh C điều hiển xe ô tô Huyndai Acent BKS 38A- 059.19 đi từ thành phố Hà T nh chở chị Dương Thị H1 (sinh năm 1987) trú tại tổ d n phố 6, phường T n Giang, thành phố Hà T nh vào Cửa hàng xăng dầu xã Cẩm Thịnh, huyện Cẩm Xuyên đón Ngô Thị Huyền T cùng đi vào Cửa hàng xăng dầu xã Kỳ Đồng, huyện K để làm tự động hóa c y xăng. Đến hoảng 12h30’ Ngô Minh C làm xong công việc thì anh Nguyễn Việt C (Sinh năm 1990, trú tại phường Hưng Trí, thị xã K, t nh Hà T nh) Trưởng Cửa hàng xăng dầu Kỳ Đồng mời Ngô Minh C, T và H1 đến quán bờ đê thuộc địa phận xã Kỳ Hải để ăn trưa. Cả ba người đồng ý nên Ngô Minh C điều hiển xe chở Ngô Thị Huyền T, chị Dương Thị H1, anh Nguyễn Việt C và anh Nguyễn Hoàng L (Sinh năm 1997, trú tại xã Kỳ Văn, huyện K là nh n viên bảo vệ cửa hàng xăng dầu Kỳ Đồng). Trên đường đi, Ngô Minh C vào thị xã K đón thêm anh Phạm Hồng Phong, sinh năm 1992, trú tại Tổ d n phố 01, phường Hưng Trí, thị xã K (nh n viên cửa hàng xăng dầu xã Kỳ Văn), hi đi Phong mang theo một bình rượu hoảng 05 lít. Đến hoảng 13h cùng ngày, cả nhóm đến quán V Phong tại bờ đê xã Kỳ Hải. Trước hi vào ngồi ăn uống mọi người thống nhất T hông uống rượu để điều hiển xe từ thị xã K về thành phố Hà T nh, ngồi ăn uống một lúc thì anh Phạm Hùng P (sinh năm 1985) trú tại phường Hưng Trí, thị xã K đi xe đến và cùng ngồi ăn uống với cả nhóm. Lúc này hoảng 14h cùng ngày, cả nhóm có ý iến thuê lái xe để T cùng ngồi uống rượu với mọi người, T đồng ý sau đó anh Phong gọi điện thoại cho anh Đỗ Viết Minh, sinh năm 1988, trú tại hu phố 1, phường Hưng Trí, thị xã K để thuê lái xe về. T bắt đầu ngồi uống rượu cùng mọi người đến hoảng 16h thì cả nhóm ngh , thanh toán tiền ra về. Ngô Minh C, tiếp tục điều hiển xe chở chị H1 ngồi ghế phụ phía trước c n T, anh Nguyễn Việt C, anh L ngồi ở hàng ghế phía sau, anh Phong đi xe mô tô cùng với anh P, hi về đến vị trí gần chợ cũ thị xã K, đối diện Bưu điện thị xã K, lúc này Ngô Minh C dừng xe lại để Nguyễn Việt C và anh L xuống xe về nhà, xe ô tô đỗ theo chiều hướng từ Nam ra Bắc trên đường QL1A. Ngô Minh C dừng xe nhưng chưa tắt máy, thấy Ngô Minh C đã uống nhiều và mệt nên Ngô Thị Huyền T (có giấy phép lái xe hạng B2, số 421160003643 do Sở Giao thông vận tải t nh Hà T nh cấp ngày 25/7/2016) nói với C “Anh mệt thì để em lái cho”, Ngô Minh C chủ động rời hỏi ghế lái mở cửa xe đi ra hàng ghế phía sau ngồi, đồng thời Ngô Thị Huyền T cũng rời hỏi vị trí ghế ngồi phía sau mở cửa để lên vị trí ngồi lái, chị H1 lúc này cũng ra sau ghế sau ngồi cùng hàng ghế với Ngô Minh C. T lên ngồi vào ghế lái, xe vẫn đang c n nổ máy, T căn ch nh lại ghế gần hơn sau đó điều hiển xe ô tô 38A- 059.19 đi theo Quốc lộ 1A hướng ra Bắc để về thành phố Hà T nh. Đến hoảng 16h30’ cùng ngày, khi T điều hiển đi đến địa phận thôn Đồng Trụ T y, xã Kỳ Đồng, huyện K, phía trước có chị Lê Hải T, điều hiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Surius BKS 38K1- 232.93 chở phía sau chị Nguyễn Thị H, đi cùng chiều với xe ô tô T điều hiển. Khi đi đến Km554+200 trên QL1A, đoạn đi qua địa phận thôn Đồng Trụ T y, xã Kỳ Đồng do hông chú ý quan sát, hông giữ hoảng cách an toàn đối với xe đi phía trước và đi vào làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ nên phần đầu bên phụ xe ô tô T điều hiển đã va chạm vào phía sau xe mô tô do chị Lê Hải T điều hiển, cú va chạm làm cho chị H và chị T văng ra hỏi xe và ngã xuống đường QL 1A, xe ô tô 38A- 059.19 tiếp tục đẩy xe mô tô 38K1- 232.93 đi 113,7m mới dừng lại.

Hậu quả chị Nguyễn Thị H chết tại chỗ, chị Lê Hải T bị tH1 nặng đi cấp cứu tại Bệnh viện đa hoa t nh Hà T nh sau đó chuyển ra Hà Nội, đến ngày 12/02/2020 thì chết. Xe ô tô Huyndai Ancent BKS 38A- 059.19 bị hư hỏng trị giá 19.700.000đ, xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Surius BKS 38K1- 232.93 bị hư hỏng trị giá 3.956.000đ.

Tại bản ết luận giám định số 31 ngày 19/02/2020 của Ph ng ỹ thuật hình sự Công an t nh Hà T nh, ết luận: Nguyên nh n chết của Nguyễn Thị H do chấn tH1 sọ não.

Tại bản ết luận giám định số 35 ngày 20/02/2020 của Ph ng ỹ thuật hình sự Công an t nh Hà T nh, ết luận: Nguyên nh n chết của Lê Hải T do chấn tH1 sọ não.

Kết quả đo nồng độ cồn đối với Ngô Thị Huyền T, sinh năm 1986, trú tại phường Nam Hà, thành phố Hà T nh: Tại thời điểm iểm tra vào lúc 18h38’ ngày 11/02/2020, có nồng độ cồn là 0,599mg/l; Thời điểm iểm tra vào lúc 19h14’ ngày 11/02/2020, có nồng độ cồn là 0,551mg/l.

Về d n sự: Gia đình nạn nh n Nguyễn Thị H do anh Nguyễn Văn T (chồng chị H) đại diện gia đình đã thống nhất chi phí tổn thất tinh thần, tang lễ và hỗ trợ chăm sóc hai người con của chị H số tiền 250.000.000đ; Gia đình nạn nh n Lê Hải T do anh Nguyễn Thái T (chồng chị T) đại diện gia đình thống nhất chi phí tổn thất tinh thần, tang lễ và hỗ trợ chăm sóc nuôi con của chị T số tiền 390.000.000đ. Hiện nay Ngô Thị Huyền T, Ngô Minh C đã đền bù đầy đủ số tiền mà gia đình các bị hại yêu cầu. Đối với xe ô tô 38A- 059.19 và xe mô tô 38K1- 232.93 Ngô Minh C và anh Bùi Xuân V không có yêu cầu gì về bồi thường d n sự.

Với hành vi phạm tội trên, tại Bản án HSST số 24/2020/HSST ngày 30/10/2020 Tòa án nhân dân huyện K đã tuyên bố bị cáo Ngô Thị Huyền T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, bị cáo Ngô Minh C phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển pH1 tiện tham gia giao thông đường bộ ”.

Áp dụng điểm b, đ hoản 2, khoản 5 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Thị Huyền T 36 tháng tù, thời hạn tính từ ngày thi hành án, hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Ngô Thị Huyền T trong thời hạn 24 tháng ể từ hi chấp hành xong hình phạt tù.

Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 264, các điểm b, i, s, v, khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Minh C 100.000.000đ.

Ngoài ra án sơ thẩm c n tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền háng cáo.

Ngày 05/11/2020, bị cáo Ngô Thị Huyền T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.

Tại phiên t a phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung háng cáo.

Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Hà T nh sau khi phân tích nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS: chấp nhận đơn háng cáo của bị cáo Ngô Thị Huyền T, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt, mức án 24 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý iến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên t a phúc thẩm bị cáo hoàn toàn hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội cũng như hoàn toàn phù hợp với biên bản hám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ án, biên bản hám nghiệm pH1 tiện liên quan đến vụ tai nạn, lời hai của bị cáo Ngô Minh C và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan, người làm chứng. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Ngô Thị Huyền T bị truy tố và xét xử về tội „Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ‟ theo b, đ khoản 2 Điều 260 BLHS là đúng pháp luật, không oan sai. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp x m phạm đến tính mạng của người hác được pháp luật bảo vệ, đồng thời g y ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông trên địa bàn.

Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Thị Huyền T, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên t a đều thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại 640 triệu đồng cho phía gia đình nạn nh n, được các gia đình nạn nh n có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo; bản thân có nhiều thành tích trong lao động được tặng Giấy khen; đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình các tình tiết giảm nhẹ mới: Giấy xác nhận của Công ty xăng dầu Hà T nh về việc bị cáo có nhiều thành tích trong công tác và đề nghị xem xét cho bị cáo hưởng án treo; Giấy xác nhận của chính quyền địa pH1 về hoàn cảnh gia đình hó hăn, chồng không có việc làm ổn định, hai con nhỏ dại 10 tuổi và 5 tuổi phụ thuộc vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ, bản thân bị cáo đau ốm thường xuyên, gia đình bên nội và bên ngoại đều có công cách mạng, bố chồng là ông Trần Hùng Vị tham gia qu n đội ngh hưu, mẹ chồng là bà Lê Thị Lan tH1 binh, tham gia thanh niên xung phong, có bác ruột là liệt sỹ Ngô Xuân T và Ngô Chính C thương binh hạng 1và đề nghị cho bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa pH1; Giấy xác nhận của Công an xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên về việc bị cáo tham gia cứu trợ lũ lụt.

Xét thấy, bị cáo phạm tội trong trường hợp do rủi ro, vô ý nằm ngoài ý muốn chủ quan. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa phúc thẩm xuất trình được nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, nhân thân tốt, đặc biệt hoàn cảnh bản thân và gia đình hiện tại hó hăn, Cơ quan công tác, chính quyền địa pH1, đại diện các gia đình bị hại đều đề nghị giảm nhẹ và xin bãi nại cho bị cáo, nên cần áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt, giảm nhẹ một phần tạo cơ hội cho bị cáo sớm trở về cộng đồng xã hội, có điều kiện lao động giúp đỡ gia đình, nuôi các con còn nhỏ dại đang cần sự chăm sóc của người mẹ.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm mức hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b hoản 1 Điều 355, điểm c hoản 1 Điều 357 BLTTHS.

1. Chấp nhận nội dung háng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2020/HSST ngày 30/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện K về mức hình phạt đối với bị cáo Ngô Thị Huyền T.

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Huyền T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng điểm b, đ hoản 2, khoản 5 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thị Huyền T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Ngô Thị Huyền T trong thời hạn 24 tháng ể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; hoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 23/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Ngô Thị Huyền T hông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ