vanban.org

Bản án 26/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Nguyễn Văn T (tức Nguyễn Ngọc T);

Về nuôi con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/8/1994 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 02/5/1999. Hiện nay cả hai con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "t.c ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Nguyễn Văn T (tức Nguyễn Ngọc T);
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày 23-7-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đặng Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Vinh

Bà Dương Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Thanh- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXX-ST ngày 07 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1975; địa chỉ: Số nhà 7/1177, đường N, Tổ 7, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Toản (tức Nguyễn Ngọc T) sinh năm 1972; nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 7/1177, đường N, Tổ 7, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 01 tháng 6 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chi ̣ Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam Hải, huyện An Hải (nay là phường Nam Hải, quận Hải An), thành phố Hải Phòng vào ngày 10/3/1993. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng quan điểm trong mọi hoạt hàng ngày nên nhiều lần cãi nhau dẫn đến cuộc sống chung luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Đến năm 2014 anh T bỏ nhà đi biệt tích. Chị và gia đình đã tìm anh T nhiều nơi, đồng thời đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng áp dụng tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng không có kết quả. Ngày 13/5/2021, Tòa án nhân dân quận Hải An đã tuyên bố anh Nguyễn Văn T mất tích và từ đó đến nay chị H vẫn không có tin tức gì của anh T. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Toản.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/8/1994 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 02/5/1999. Hiện nay cả hai con đã trưởng thành, có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã bị Tòa án nhân dân quận Hải An tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 04/2021/QĐST-DS ngày 13/5/2021 nên vắng mặt tại phiên tòa. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo thủ tục chung theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo kết quả xác minh tại Tổ dân phố số 7, phường Nam Hải, Hải An, Hải Phòng nơi anh T và chị H trước đây chung sống: Quá trình chung sống, chị H và anh T có xảy ra mâu thuẫn trầm trọng . Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do hai bên có sự bất đồng về quan điểm sống . Đến năm 2014, anh T bỏ nhà đi biệt tích khỏi địa phương đến nay vẫn không có tin tức gì về anh T.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã bị Tòa án nhân dân quận Hải An tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 04/2021/QĐST-DS ngày 13/5/2021 nên vắng mặt tại phiên tòa. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoa về những vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn anh T.

- Về nuôi dưỡng con: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/8/1994 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 02/5/1999. Hiện nay cả hai con đã trưởng thành, có gia đình riêng, nên không xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Văn T, nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 7/1177, đường N, Tổ 7, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt. Nguyên đơn đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 04/2021/QĐST-DS ngày 13/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H và anh T đã trầm trọng, kéo dài. Anh T bỏ đi biệt tích từ năm 2014 đến nay không có tin tức. Anh T đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 04/2021/QĐST-DS ngày 13/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Như vậy, việc chị H yêu cầu xin ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/8/1994 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 02/5/1999. Hiện nay cả hai con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147; Điều 228; khoản 1 Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự ; các điều 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Nguyễn Văn T (tức Nguyễn Ngọc T);

2. Về nuôi con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/8/1994 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 02/5/1999. Hiện nay cả hai con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phi : Chị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn ) tiền án phi ly

́

́ hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp đủ số tiền trên tại Chi cu ̣c Thi hành án dân sự quâ ̣n Hải An, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu số 0018118 ngày 03 tháng 6 năm 2021.

5. Về quyền kháng cáo : Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ