vanban.org

Bản án 26/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Tú H.

Về hôn nhân: Xử cho bà Dương Thị Tú H được ly hôn với ông Thạch Sa R. Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và cháu Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu A và cháu O thành niên. Ông R không phải cấp d…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Tú H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Thạch Thị Tú A
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 5 - 2021
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Quân.

Ông Trần Huy Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 288/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Dương Thị Tú H; Sinh năm: 1985; Địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Thạch Sa R; Sinh năm: 1983; Địa chỉ: ấp H, thị trấn L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 10 năm 2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Dương Thị Tú H trình bày:

Về hôn nhân: Bà Dương Thị Tú H và ông Thạch Sa R tự nguyện kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn vào ngày 06/10/2008 và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 278, ngày 06/10/2008. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến tháng 9/2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng đi lên Bình Dương làm thuê, ông R thường xuyên ăn nhậu về kiếm chuyện đánh bà H, nên làm cho mục đích hôn nhân không đạt được, bà H và ông R sống ly thân từ tháng 7/2010 cho đến nay. Nay bà H xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông R không còn, nên bà H yêu cầu ly hôn với ông R; Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà H và ông R có 02 người con chung là Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007. Hiện nay A và O đang sống chung với bà H. Bà H yêu cầu được nuôi con chung tên là Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên bà H không có yêu cầu gì.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24 tháng 3 năm 2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Thạch Sa R trình bày: Ông R không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H vì ông còn thương vợ; Về con chung: Ông R yêu cầu giao con chung giữa ông và bà H là Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007 cho bà H nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông R sẽ không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên ông R không yêu cầu gì.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, về con chung xử giao cháu Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007 cho bà H nuôi dưỡng đến khi thành niên; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Thạch Sa R là bị đơn trong vụ án, ông R đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông R.

Đối với nguyên đơn bà Dương Thị Tú H đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Dương Thị Tú H và ông Thạch Sa R là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ tháng 7/2010, hai bên đã sống ly thân. Từ khi ly thân cho đến nay ông bà không có gặp nhau để bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện ngày 29 tháng 10 năm 2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà H yêu cầu được ly hôn với ông R là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà H. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà H được ly hôn với ông R. Ông Thạch Sa R không đồng ý ly hôn, nhưng ông R không tìm giải pháp hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên yêu cầu của ông R không có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà H và ông R có 02 con chung tên là Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007. Hiện nay, A và O đang sống chung với bà H. Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 10 năm 2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà H yêu cầu được nuôi con chung tên là Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 24 tháng 3 năm 2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Thạch Sa R trình bày: Ông R yêu cầu giao con chung giữa ông R và bà H là Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007 cho bà H nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông R sẽ không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Giữa bà H và ông R đã thỏa thuận được việc nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và cháu Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu A và O thành niên, do bà H không yêu cầu ông R phải cấp dưỡng nuôi con, nên ông R không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông R, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông R không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông R không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Tú H.

1. Về hôn nhân: Xử cho bà Dương Thị Tú H được ly hôn với ông Thạch Sa R.

2. Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Tú A, sinh ngày 06/6/2004 và cháu Thạch Thị Tú O, sinh ngày 26/5/2007 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu A và cháu O thành niên. Ông R không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông R, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông R không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị Tú H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005768 ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Thạch Sa R không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Dương Thị Tú H và ông Thạch Sa R có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ