- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tai san"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim P. Buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim P số tiền 567.
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự buộc vợ chồng ông Y D Krông
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 26/2021/DS-ST Ngày: 30/9/2021 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang và ông Nguyễn Thành Thông
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Đức – Thư ký Toà án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 67/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2021/QĐST–DS ngày 15 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim P (Tên gọi khác: Đ), sinh năm 1974. Địa chỉ: Buôn M, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2/ Bị đơn: Vợ chồng ông Y D Krông, sinh năm 1974, bà H’N Niê, sinh năm 1980. Địa chỉ: Buôn M, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim P trình bày: Do quen biết nhau nên tôi cho vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê vay tiền nhiều lần, cụ thể:
- Ngày 26/11/2019, tôi cho vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê vay 250.000.000 đồng để mua cây keo, thời hạn vay 01 tháng.
- Ngày 10/12/2019, tôi cho vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê vay 230.000.000 đồng để đảo hạn ngân hàng, thời hạn vay 02 tháng.
- Ngày 26/12/2019, tôi cho vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê vay 100.000.000 đồng để đảo hạn ngân hàng cho con gái, thời hạn vay 01 tháng.
Về tiền lãi hai bên tự thỏa thuận với nhau và không ghi trong giấy vay tiền. Tổng cộng vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê đã vay của tôi 03 lần với số tiền 580.000.000 đồng. Kể từ khi vay đến nay, vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê chưa trả cho tôi khoản tiền gốc và tiền lãi.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, tôi xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 100.000.000 đồng nợ gốc theo giấy vay tiền ngày 26/12/2019.
Tôi yêu cầu vợ chồng ông Y D Krông, bà H’ Nghi Niê phải trả 480.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi suất 10%/năm kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ đến ngày xét xử sơ thẩm.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự để vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê đến Tòa án lập bản tự khai, phiên đối chất, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207 và Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.
- Buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim P tổng số tiền 480.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi tính từ ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ theo mức lãi suất 10%/năm, cụ thể:
+ Từ ngày 26/11/2019 đến ngày 30/9/2021 = 250.000.000 đồng x (674 ngày : 365 ngày) x 10% = 46.164.000 đồng.
+ Từ ngày 10/12/2019 đến ngày 30/9/2021 = 230.000.000 đồng x (660 ngày : 365 ngày) x 10% = 41.589.000 đồng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ trả số tiền 100.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 26/12/2019.
Về án phí: Bị đơn ông Y D Krông, bà H’N Niê phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:
Xét về tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê đề ngày 07/4/2021, Toà án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê đều cư trú tại buôn M, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và không yêu cầu vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải có nghĩa vụ trả 100.000.000 đồng theo giấy cho vay tiền đề ngày 26/12/2019. Việc rút đơn trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ Điều 217, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ yêu cầu này.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải trả tổng số tiền 480.000.000 đồng nợ gốc và lãi suất phát sinh. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk đã triệu tập bị đơn vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê đến Toà án để làm việc và trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Để có cơ sở giải quyết vụ án, nguyên đơn làm đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bị đơn theo các giấy cho vay tiền ngày 10/12/2019 và ngày 26/12/2019.
Tại Bản kết luận giám định số 140/KLGĐ-PC09, ngày 16/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:“1. Chữ viết mang tên Y D trên các tài liệu cần giám định kí hiệu A1, A2 so với chữ viết đứng tên Y D Krông trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người viết ra. 2. Chữ viết mang tên H’N trên các tài liệu cần giám định kí hiệu A1, A2 so với chữ viết đứng tên H’N Niê trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người viết ra ”.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Ngày 10/12/2019 và ngày 26/12/2019, vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê vay bà Nguyễn Thị Kim P với tổng số tiền 480.000.000 đồng.
Xét thấy hợp đồng vay được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái với đạo đức, xã hội. Tuy nhiên, đến thời hạn vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê chưa trả nợ cho bà Nguyễn Thị Kim P là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim P số tiền vay gốc 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng) theo giấy cho vay tiền đề 10/12/2019 và ngày 26/12/2019.
Về tiền lãi: Tại hợp đồng vay tiền đề ngày 10/12/2019 và ngày 26/12/2019 các bên không thỏa thuận tiền lãi. Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử tính tiền lãi 10%/năm từ ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử sơ thẩm. Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là hợp lý và đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm.Cụ thể như sau:
- Từ ngày 26/11/2019 đến ngày 30/9/2021 = 250.000.000 đồng x (674 ngày : 365 ngày) x 10% = 46.164.000 đồng.
- Từ ngày 10/12/2019 đến ngày 30/9/2021 = 230.000.000 đồng x (660 ngày : 365 ngày) x 10% = 41.589.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim P tổng số tiền 567.753.000 đồng, trong đó tiền vay gốc: 480.000.000 đồng và tiền lãi 87.753.000 đồng.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu giám định của nguyên đơn được chấp nhận nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 161, khoản 1 Điều 162 của Bộ luật tố tụng dân sự buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải chịu 6.000.000 đồng về chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Bà Nguyễn Thị Kim P không phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải trả 6.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Kim P.
Về án phí: Bị đơn vợ chồng ông Y D Krông, bà H’ Nghi Niê là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê không hợp tác để giải quyết vụ án và không có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải chịu 26.710.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại bà Nguyễn Thị Kim P 15.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số 60AA/2021/0005051 ngày 12/4/2021.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 161, khoản 1 Điều 162, Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015 và Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim P. Buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim P số tiền 567.753.000 đồng, bao gồm 480.000.000 đồng nợ gốc và 87.753.000 đồng tiền lãi.
Kể từ ngày 01/10/2021 cho đến khi thi hành án xong bản án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim P về yêu cầu vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải có nghĩa vụ trả số tiền 100.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 26/12/2019.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc vợ chồng ông Y D Krông, bà H’N Niê phải trả 6.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Kim P về chi phí giám định chữ ký, chữ viết.
4. Về án phí:
- Vợ chồng ông Y D Krông, bà H’ Nghi Niê phải chịu 26.710.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại bà Nguyễn Thị Kim P 15.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số 60AA/2021/0005051 ngày 12/4/2021.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện M’Đrắk; - Chi cục THADS huyện M’Đrắk; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Nguyễn Phi Long |