vanban.org

Bản án 26/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 16/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A : 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ: ( 11/03/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26 /2020/HSST
Ngày: 16/6/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Sáu

2. Bà Đặng Thị Thỏa

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A , sinh năm 1991; Tại: thị xã B , tỉnh T ; Nơi cư trú: khu phố 9, phường B , thị xã B , tỉnh T ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân T (đã chết) và bà Ngô Thị N sinh năm 1956; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 11/11/2010 bị công an thị xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.000.000đ

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2020 . Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an thị xã Bỉm Sơn; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/3/2020, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe mô tô BKS: 36L3 – 1571 đến khu vực bãi than thuộc khu phố 5, phường B, thị xã B để tìm mua ma túy sử dụng vì trước đó Tuấn A nghe bạn nghiện nói ở đây có anh “T T” bán ma túy tại nhà. Khi đến nơi, Tuấn A đi thẳng vào bên hông nhà, đến bên cửa sổ đang đóng kín và nói “anh ơi bán cho em 100.000 đồng ma túy” thì bên trong có người mở hé cửa sổ ra nhận của Tuấn A số tiền: 100.000 đồng và đưa lại qua khe cửa sổ cho Tuấn A 01 gói giấy màu trắng loại giấy vở học sinh có dòng kẻ, kích thước gói khoảng (1x2)cm, bên trong gói có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Sau khi mua được ma túy, Tuấn A cầm gói ma túy trong lòng tay phải rồi điều khiển xe đi được khoảng 02 mét thì bị Tổ công tác công an phường B yêu cầu kiểm tra, phát hiện và thu giữ. Tổ công tác mời người đến chứng kiến và đưa Tuấn A về trụ sở Công an phường B lập biên bản phạm pháp quả tang, niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 gói giấy nhỏ màu trắng loại vở học sinh có dòng kẻ, kích thước gói khoảng (1x2)cm bên trong gói có chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn.

- 01 chiếc xe mô tô honda nhãn hiệu Wave anpha, màu đỏ biển kiểm soát: 36L3 – 1571 đã cũ.

Ngày 12/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Bá T ở khu phố 5, phường B , thị xã B thu giữ:

- 01 (một) tờ giấy hình chữ nhật loại có dòng kẻ, kích thước khoảng (18x25)cm, trên mặt tờ giấy có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn thu tại nền nhà phía dưới bàn trang điểm bên trong phòng ngủ.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động loại bàn phím, màu vàng, nhãn hiệu Mobi star, bên trong lắp sim số: 0911.462.754, máy cũ thu tại giường trong phòng ngủ.

Ngày 16/3/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T có kết luận giám định số 962/PC09 kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng (trọng lượng) 0,181g (không phẩy một tám một gam) loại: Heroine và số 967/PC09 kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng (trọng lượng) 0,070g (không phẩy không bảy không gam) loại: Heroine. Theo Tuấn A khai người nam thanh niên đã bán gói ma túy tại nhà là Phạm Bá T ở khu phố 5, phường B, thị xã B, nhưng quá trình điều tra Phạm Bá T không thừa nhận bán ma túy cho Tuấn A, việc mua bán không ai biết, không ai thấy nên không có căn cứ để xử lý Phạm Bá T về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Gói ma túy thu giữ tại nhà Phạm Bá T ngày 12/03/2020 không đủ trọng lượng khởi tố T về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điều 249 của BLHS, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với Phạm Bá T.

Chiếc xe mô tô hon da nhãn hiệu Wave anpha màu đỏ có BKS 36L3-1571 đã cũ là tài sản của chị Nguyễn Thị T. Tuấn A mượn nói là đi có việc riêng. Chị T không biết Tuấn A sử dụng vào việc đi mua ma túy nên cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe trên cho chị T theo quy định của pháp luật.

01 điện thoại di động Mobista loại bàn phím, màu vàng , máy đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0911462754 thu giữ tại nhà Phạm Bá T là tài sản riêng của T không liên quan đến vụ án cơ quan CSĐT đã trả lại cho T theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-BS ngày 25/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Nguyễn Tuấn A từ 15 tháng đến 18 tháng tù; về sử lý vật chứng đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ Luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 của BLTTH tịch thu tiêu hủy số ma túy là tang vật của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 11/3/2020 tại khu phố 5, phường B , thị xã B tổ công tác công an phường B sơn bắt quả tang Nguyễn Tuấn A đang cất giữ trái phép 01 gói ma túy qua giám định có trọng lượng 0,181 gam loại hê rô in nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ Luật Hình sự.

. Về tính chất vụ án vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý của nhà nước ta, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và nhằm cảnh tỉnh răn đe phòng ngừa tội phạm.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về nhân thân: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy đã từng bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ Luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,168 gam chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn thu được của Nguyễn Tuấn A và 0,052 gam chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn thu được của Phạm Bá T ( mẫu vật còn lại sau giám định).

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A : 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ: ( 11/03/2020).

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ Luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,168 gam chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn thu được của Nguyễn Tuấn A và 0,052 gam chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn thu được của Phạm Bá T ( mẫu vật còn lại sau giám định).

(Tang vật được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2020 của chi cục thi hành án Dân sự thị xã Bỉm sơn).

3. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/6/2020)

Cỡ chữ