vanban.org

Bản án 26/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 24/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƯNG YÊN
_____________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bả án số: 26/2020/HSST
Ngày 24/8/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG – TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Quyết Thắng

+ Ông Tô Xuân Sinh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/8/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự thụ lý số 26/2020/HSST ngày 03/8/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/HSST ngày 12 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang H – Sinh năm: 1997

STQ: Thôn ĐX, xã ĐT, huyện GL, thành phố HN

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: 10/12;

Nghề nghiệp: Tự do

Bố: Nguyễn Văn N – Sinh năm: 1970

Mẹ: Nguyễn Thị V – Sinh năm: 1978

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn.

Vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/6/2020, đến ngày 04/6/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Giang.

Người làm chứng:

- Anh Đỗ Đức Đ – Sinh năm: 1994

Trú tại: Xóm 5, xã XQ, huyện VG, tỉnh HY

- Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1996

Trú tại: Thôn 5, xã ĐD, huyện GL, thành phố HN

Tại phiên tòa, có mặt: bị cáo H, vắng mặt anh Đ, anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 01/6/2020 tại Khu Thảo Nguyên, đô thị Ecopark, thuộc xã Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang phối hợp với Công an xã Cửu Cao và Ban an ninh Khu vực đô thị Ecopark kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Quang H đang cất giữ trái phép chất ma túy. Cụ thể đã thu tại cạp quần lót phía trong vùng bụng trái của H có 01 gói nilon màu trắng, kích thước (7,5x4)cm, có khóa bóp viền màu đỏ, 01 gói nilon màu trắng, kích thước (3x3)cm, có khóa bóp viền màu xanh, bên trong có chứa nhiều cục chất rắn màu trắng dạng tinh thể, tiến hành niêm phong ký hiệu M. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của H đang mặc 01 điện thoại Iphone màu trắng bạc, bên trong có lắp 01 sim điện thoại.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang khám xét khẩn cấp nơi ở của H ở thôn ĐX, xã ĐT, huyện GL, thành phố HN nhưng không thu giữ được gì.

Tại Bản kết luận giám định số 170/MT-PC09 ngày 04/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M, có khối lượng 1,766 gam, là ma túy, loại Ketamin. Mẫu chất dạng viên nén màu xanh trong niêm phong ghi ký hiệu M, có khối lượng 1,497 gam là ma túy, loại MDMA.

Quá trình điều tra, H thành khẩn khai nhận đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 01/6/2020, H đi nhờ xe của người không quen biết đến khu vực gầm cầu Long Biên thuộc quận LB, thành phố HN để mua ma túy sử dụng. H gặp một nam thanh niên tên D (quen biết từ trước, không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể) và hỏi mua ma túy. H đưa cho D 4.600.000đ và D đưa cho H 01 túi nilon bên trong có 04 viên ma túy màu xanh thường gọi là “Kẹo” với giá 1.600.000đ và 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng thường gọi là ma túy dạng “Ke” với giá 3.000.00đ. H cất tất cả số ma túy đã mua được kẹp vào cạp quần rồi đi xe ôm (của người không rõ tên, địa chỉ) để về nhà. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, H lại nhờ xe của người đi đường (không quen biết) đến khu vực Thảo Nguyên thuộc khu đô thị Ecopark để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị phát hiện và bắt quả tang, bị thu giữ toàn bộ số ma túy cùng 01 điện thoại như nêu ở trên.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSVG ngày 03/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Văn Giang truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với bản Cáo trạng và bản Luận tội của VKSND huyện Văn Giang, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa có quan điểm xác định sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng tới việc xét xử bị cáo đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm, phân tích tính nguy hiểm của tội phạm do bị cáo gây ra, hậu quả của hành vi đối với xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện VKSND huyện Văn Giang đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 01/6/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy 1,540 gam Ketamine và 1,305 gam MDMA hoàn lại sau giám định trong niêm phong.

Trả lại bị cáo H chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng - bạc, mặt sau có chữ Model: A1688, bên trong khe sim có gắn 01 sim mặt sau có dãy số: 8984/04800/00310/77253.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Văn Giang nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, VKSND huyện Văn Giang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:

Bị cáo và đại diện VKSND huyện Văn Giang đề nghị xét xử vắng mặt người làm chứng trong vụ án, HĐXX thấy rằng: Quá trình điều tra người làm chứng đã có đầy đủ lời khai nên việc vắng mặt họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Vì vậy HĐXX quyết định xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Văn Giang truy tố:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật và vật chứng được thu giữ; Kết luận giám định. Như vậy, HĐXX đã đủ căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 01/6/2020 tại khu Thảo Nguyên trong khu đô thị Ecopark, thuộc xã Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Quang H đang cất giấu trái phép 1,766 gam ma túy loại Ketamine và 1,497 gam ma túy loại MDMA trong người để sử dụng thì bị Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Nên hành vi tàng trữ trái phép hai chất ma túy có khối lượng 1,766 gam loại Ketamine và 01 gói ma túy có khối lượng 1,497 gam loại MDMA để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Cáo trạng truy tố của VKSND huyện Văn Giang là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hành vi của bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xét xử nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, ông nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, vai trò, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Bị cáo là người đã từng sử dụng ma túy, biết rõ tác hại của ma túy, biết rõ việc tàng trữ trái phép ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng không nghiêm khắc với bản thân, không có ý thức tự cải tạo, giáo dục để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, cộng đồng mà coi thường pháp luật cố ý phạm tội nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung cho mọi người.

Đối với đối tượng tên D ở khu vực cầu Long Biên, thành phố HN đã bán ma túy cho H về sử dụng, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và sẽ xử lý sau.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo trước khi bị bắt không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản tích lũy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

- 1,540 gam ma túy loại Ketamine và 1,305 gam ma túy loại MDMA hoàn lại sau giám định trong niêm phong là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

- Chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu trắng bạc, bên trong có lắp 01 sim điện thoại đã thu giữ HĐXX xác định là tài sản của bị cáo H sở hữu không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ :

- Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Luật phí và lệ phí; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[2]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[3]. Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Quang H 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 01/6/2020.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 1,540 gam Ketamine và 1,305 gam MDMA trong niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 170/MT-PC09 ngày 04/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên.

Trả lại bị cáo Nguyễn Quang H 01 chiếc điện thoai di động Iphone màu trắng bạc, mặt sau có chữ Model: A1688, bên trong khe sim có gắn một sim mặt sau có dãy số 8984/04800/00310/77253.

(Tình trạng, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2020 giữa Công an huyện Văn Giang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang).

[6]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án.

Cỡ chữ