- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án p…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2020/HSST Ngày: 13 – 11 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Nhưng
2. Bà Lê Thị Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư Ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Thơ, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/XXHSST – HS, ngày 02/11/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Đức D; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không
Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1993, tại xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; trình độ văn hoá: 09/12; con ông: Hoàng Văn T, sinh năm 1955; con bà: Nguyễn Thị A, sinh năm 1958; vợ: Hồ Thị Thúy Q sinh năm 1998; con: Có 01 đứa, sinh 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2009 Hoàng Đức D bị Công an huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Hoàng Đức D bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2020 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn C – sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn L, xã G, huyện J, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)
- Chị Trịnh Thị M – sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn U, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- Anh Phan Tiến F – sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
Những người tham gia tố tụng khác
Người làm chứng:
- Chị Trần Thị Tr – sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn W, xã E, thành phố Z, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
Người chứng kiến:
- Anh Phạm Văn Qu– sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn U, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- Anh Võ Văn P – sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn So, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thành O – sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn U, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/6/2020, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc biển kiểm soát 38K1- 518.55 là xe của chị Trịnh Thị M (sinh 1979 trú tại Thôn V, xã N, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) chở Nguyễn Đình Đ (sinh năm 1990, trú tại Thôn So, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) ra thành phố Z để mua ma túy. Khi đi đến Cầu Phủ, D dùng điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung gắn sim số 094579689 gọi vào số điện thoại Hoàng Đức D là đối tượng thường sử dụng ma túy và giao dịch qua số điện thoại 0399809897 của một người đàn ông tên Ph (không xác định nhân thân lai lịch) ở thành phố Z để mua 1.500.000 đồng ( Một triệu năm trăm ngàn đồng) ma túy đá cho D và 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) Heroin cho Đ. Khi D và Đ đứng đợi được một lúc thì từ khách sạn Kh ở thành phố Z, có 01 người đàn ông đi ra và lấy số tiền 2.000.000 đồng từ D rồi đi vào khách sạn, lúc này từ trên khách sạn có một người nào đó đã ném xuống gần vị trí mà D và Đ đang đứng 01 túi ni lông, bên trong có chứa ma túy đá và một gói giấy bạc, D nhặt túi ni lông lên rồi đi về Kỳ Anh. Khi đến thị trấn Cẩm Xuyên, D đưa cho Đ gói giấy bạc còn gói ma túy đá D cất vào túi áo khoác nắng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày D gọi điện rủ và chở Nguyễn Văn H (sinh 1997 trú tại Thôn U, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) sang nhà D chơi. Tại đây D lấy một ít ma túy từ gói ma túy mua được sang 01 gói ni lông khác rồi bỏ vào chiếc ví da màu đen của mình và lấy ra một ít ma túy để cùng sử dụng với H, số còn lại D cất dấu trong túi ngực của áo khoác nắng rồi treo vào tủ quần áo ở phòng ngủ. Sau đó H điều khiển xe mô tô chở D đi dạo, đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến khu vực Thôn U, xã B, huyện K, thì bị lực lượng Công an huyện kiểm tra, bắt giữ, phát hiện tại ngăn ngoài trên cùng chiếc ví da màu đen của D để trong quần đang mặc trên người có 01 (một) gói ni lông trong suốt, hình chữ nhật được dán kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng đục, đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà D, D tự nguyện giao nộp 01 (một) gói ni lông trong suốt, hình vuông, để ở túi trong bên phải áo khoác nắng màu vàng treo trong tủ quần áo tại phòng ngủ, D khai nhận 02 gói trên đều là ma túy đá D mua về cất dấu để sử dụng dần.
Tại bản Kết luận giám định số 124/GĐMT-PC 09 ngày 22/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể màu trắng đục chứa trong 02 (hai) gói ni lông trên là Methamphetamine với tổng khối lượng 0,7753 gam (không phẩy bảy bảy năm ba gam). Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Về vật chứng đã thu giữ:
- 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Hon da Wave, màu đen bạc biển kiểm soát 38 K1-518.55 số khung 3916KY365947, số máy JA39 B1233311 đã qua sử dụng.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM G532G/GS số
IMEI 1: 351556099476182; số IMEI 2: 351557099476180 bên trong có gắn sim số 0946579689 đã qua sử dụng;
01( một) chiếc ví da màu đen bên ngoài có in các ký tự " CK Calvin Klein" bên trong đựng 58.000 đồng ( năm mươi tám ngàn đồng) tiền Việt Nam đang có giá trị lưu hành trên thị trường.
02 (hai) gói ni lông bên trong chứa 0,7753 gam ma túy Methamphetamine ( đã lấy 0,0373 gam làm mẫu giám định).
Chiếc xe mô tô đã trả lại cho chủ sở hữu, số vật chứng còn lại chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT- VKSKA ngày 17 tháng 9 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Hoàng Đức D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Đức D từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giưc, tạm giam 19/6/2020.
Về vật chứng áp dụng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,738 gam Methamphetamine và 01( một) chiếc ví da màu đen bên ngoài có in các ký tự " CK Calvin Klein";
Trả lại cho bị cáo Hoàng Đức D 58.000đ (Năm mươi tám ngàn đồng) tiền Việt Nam đang có giá trị lưu hành trên thị trường.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM G532G/GS số IMEI 1: 351556099476182; số IMEI 2: 351557099476180 bên trong có gắn sim số 0946579689 đã qua sử dụng
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, buộc Hoàng Đức D phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai người có quyền, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/6/2020 tại đường Kinh tế quốc phòng Phong Khang thuộc địa phận Thôn U, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh đã bắt quả tang và khám xét tại nhà Hoàng Đức D đang có hành vi tàng trữ 0,7753 gam Methamphetamine. Quá trình điều tra D khai nhận 02 gói ma túy trên do D mua của một nam thanh niên tên Ph ở thành phố Z, không rõ nhân thân lai lịch với giá 1.500.000 đồng về để sử dụng.
Hành vi của Hoàng Đức D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này bị cáo Hoàng Đức D thực hiện hành vi phạm tội một mình, không có đồng phạm.
. Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hoàng Đức D là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định có lối sống buông thả, ăn chơi, không chịu khó làm ăn mặc dù đã có nhân thân xấu: Năm 2009 Hoàng Đức D bị Công an huyện Cẩm Xuyên , tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo mình và cai nghiện ma tuý mà lại tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, lại nghiện ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
.
Quá trình điều tra người đàn ông tên Ph, đã bán ma túy cho D ở thành phố Z có số điện thoại 0399.809.897. Tuy nhiên, qua điều tra xác định số điện thoại 0399.809.897 đăng ký tên anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 trú tại thôn L, xã G, huyện J, tỉnh Quảng Nam, nhưng anh Nguyễn Văn C trình bày không đăng ký cũng như sử dụng số điện thoại này, vì vậy không đủ căn cứ để xử lý và không có căn cứ để kết luận người đàn ông tên Ph.
Trong vụ án này Hoàng Đức D cùng Nguyễn Văn H thường xuyên sử dụng ma túy với nhau (là những đối tượng nghiện ma túy), tuy nhiên quá trình sử dụng ma túy D không rủ rê, lôi kéo, chủ động tổ chức từ trước hay có lợi ích gì, việc sử dụng ma túy, H tự nguyện sử dụng nên không có căn cứ xử lý D về hành vi Tổ chức sử dụng ma túy; còn hành vi của Nguyễn Văn H đã vi phạm vào khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Đình Đ, quá trình điều tra Hoàng Đức D khai nhận về việc Đ là người đã cùng D đi mua Heroin về sử dụng vào ngày 19/6/2020 qua xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình, hiện nay Đ không có mặt tại địa phương nên cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh tiếp tục điều tra làm rõ.
Trong vụ án này khi bắt giữ Hoàng Đức D, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh, phát hiện gần nơi D bị bắt, có 02 túi ni lông bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, quá trình giám định, chất tinh thể màu trắng đục chứa trong 01 (một) gói ni lông trong suốt, hình chữ nhật có kích thước (2,6 x 0,9) cm, khối lượng 0,0527 gam và chất tinh thể màu trắng đục chứa trong 01 (một) gói ni lông nhỏ trong suốt, hình chữ nhật có kích thước (3,6 x 0,9) có khối lượng 0,3439 gam, đều là Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ/CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Tuy nhiên trong quá trình điều tra D không khai nhận của mình và không xác định được đây là ma túy của ai nên không có căn cứ để kết luận.
Đối với chị Trịnh Thị M cho con trai là Phan Tiến F ( sinh năm 2002) mượn chiếc xe mô tô hiệu Hon da Wave, màu đen bạc biển kiểm soát 38 K1-518.55 để đi chơi tại nhà của bạn tên là Nguyễn Tiến E ( sinh năm 1999 trú tại thôn Ư, xã N, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh). Sau đó Đạt đã mượn xe mô tô của Quyền đi chơi rồi để lại nhà của Hoàng Đức D, nên D đã mượn xe đi mua ma túy, chị M và cháu F không biết, nên không có cơ sở để kết luận.
. Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh thu giữ và trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Hon da Wave, màu đen bạc biển kiểm soát 38 K1-518.55 số khung 3916KY365947, số máy JA39 B1233311 đã qua sử dụng cho chủ sở hữu.
Hiện nay còn lại các vật chứng sau:
01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM G532G/GS số
IMEI 1: 351556099476182; số IMEI 2: 351557099476180 bên trong có gắn sim số 0946579689 đã qua sử dụng;
01( một) chiếc ví da màu đen bên ngoài có in các ký tự " CK Calvin Klein" bên trong đựng 58.000 đồng ( năm mươi tám ngàn đồng) tiền Việt Nam đang có giá trị lưu hành trên thị trường.
02 (hai) gói ni lông bên trong chứa 0,7753 gam ma túy Methamphetamine ( đã lấy 0,0373 gam làm mẫu giám định, hiện còn lại 0,738 gam).
Hội đồng xét xử xét thấy 0,738 gam Methamphetamine là hàng cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM G532G/GS số IMEI 1: 351556099476182; số IMEI 2: 351557099476180 bên trong có gắn sim số 0946579689 đã qua sử dụng và 01( một) chiếc ví da màu đen bên ngoài có in các ký tự " CK Calvin Klein" là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo, đối với chiếc ví hiện không còn giá trị sử dụng; 58.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ 0,738 gam Methamphetamine và 01 chiếc ví nói trên; trả lại cho Hoàng Đức D 58.000đ; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM G532G/GS số IMEI 1: 351556099476182; số IMEI 2: 351557099476180 bên trong có gắn sim số 0946579689 đã qua sử dụng, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo: Hoàng Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Xử phạt Hoàng Đức D 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/6/2020.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 0,738 gam Methamphetamine và 01( một) chiếc ví da màu đen bên ngoài có in các ký tự " CK Calvin Klein";
Trả lại cho Hoàng Đức D 58.000đ (Năm mươi tám ngàn đồng) tiền Việt Nam đang có giá trị lưu hành trên thị trường.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM G532G/GS số IMEI 1: 351556099476182; số IMEI 2: 351557099476180 bên trong có gắn sim số 0946579689 đã qua sử dụng
Về án phí: Xử buộc Hoàng Đức D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT; -VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PC10; - Sở Tư pháp; - Trại tạm giam; - CA huyện Kỳ Anh; - VKSND huyện Kỳ Anh; - THA dân sự; - THA hình sự; - Những người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Hoàng |