- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn B tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện C để xét xử đối với bị can Trần
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình tuyên tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2020/HSST Ngày 13/8/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phúc.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hiền;
2. Ông Dương Trần Trọng Quang.
- Thư ký ghi B bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh – Thư ký Tòa án
nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia
phiên tòa:
1. Ông Phạm Văn Nhớ - Kiểm sát viên;
2. Ông Nguyễn Đức Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền
Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2020/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn B; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991; Sinh và trú quán:
ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12;
- Quan hệ gia đình: Cha: Trần Văn L, sinh năm 1968; nghề nghiệp: làm
vườn; Mẹ: Huỳnh Cẩm L1, sinh năm 1968; Nghề nghiệp: làm vườn. Cả hai ngụ cùng địa chỉ với bị cáo. Anh em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Lê Thanh M sinh năm 1995, đã ly hôn. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2014.
- Tiền án: không.
- Tiền sự: 01 lần, ngày 20/3/2020, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C,
quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2020 đến ngày 27/3/2020, chuyển tạm
giam từ ngày 27/3/2020 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C.
- Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang truy tố về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, (bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Huỳnh Cẩm L1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh
Tiền Giang (có mặt)
2. Bà Đoàn Thị C, sinh năm 1957. Địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện C, tỉnh
Tiền Giang (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Giảng Tuấn C, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh
Tiền Giang, (vắng mặt)
2. Anh Thái Văn C, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền
Giang, (vắng mặt).
* Vật chứng cần đem ra xem xét tại phiên tòa: Không có.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 07 giờ 30 phút ngày 21/3/2020, Phan Minh Q điều khiển xe mô tô
biển số 71AB-007.22 lưu thông trên đường tỉnh lộ 864, chở phía sau Trần Văn B, khi đến ấp B, xã T, huyện C, bị Công an huyện C chặn dừng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phan Minh Q đang tàng trữ ma túy trong túi áo khoát bên ngực trái của Q đang mặc trên người. Vật chứng thu giữ được gồm
+ Xe mô tô biển số 71AB-007.22.
+ Hai bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu,
có viền xanh một đầu, kích thướt (2,5 x 1,6) cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong trong bì thư màu trắng có dòng chữ: Ủy ban nhân dân xã T, có chữ ký xác nhận của Nguyễn Ngọc C (Điều tra viên), Đỗ Lê N (cán bộ niêm phong), Triệu Minh T (Phó trưởng Công an xã T, huyện C), Giảng Tuấn C và Võ Thành T (người chứng kiến), Phan Minh Q và Trần Văn B (người bị bắt), được niêm phong ký hiệu gói số 01.
+ Hai điện thoại di động (01 cái màu vàng đen hiệu Vivo và 01 cái màu
đỏ hiệu Nokia).
+ 01 ống nhựa màu xanh, nhọn 01 đầu.
+ 01 cái nỏ bằng thủy tinh.
+ 01 cái quẹt gas màu đỏ.
+ 04 ống hút bằng nhựa nhiều màu.
+ 05 bịch nilon bên trong không có chứa gì, gồm: 03 bịch nilon màu trắng
hàn kín xung quanh có kích thướt (2,5 x 1,5) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền xanh một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền đỏ một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm.
+ Tiền 315.000 đồng (ba trăm mười lăm nghìn đồng).
+ 01 cái hộp hình vuông bằng kim loại màu vàng có kích thướt (13 x 09 x 02)
cm.
+ 01 xe mô tô biển số 71AB-007.22.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Phan Minh Q và Trần
Văn B khai nhận như sau: Phan Minh Q và Trần Văn B là bạn bè, cả hai đã nhiều lần hùn tiền mua ma túy để sử dụng chung, mỗi lần hùn mỗi người từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Khoảng 01 giờ ngày 21/3/2020, Q và B cùng đến thị trấn C, huyện C chơi, cả hai thỏa thuận hùn tiền mỗi người 200.000 nghìn đồng để mua ma túy sử dụng chung, B đưa cho Q 200.000 đồng để Q trực tiếp mua ma túy. Q điều khiển xe mô tô biển số 71AB-007.22 chở B đến khu vực cầu C 2, thị trấn C, tại đây Q mua 01 bịch ma túy của một thanh niên có biệt danh “Anh Ba” (chưa rõ họ, tên và địa chỉ) giá 400.000 đồng. Mua được ma túy, Q lấy bịch ma túy ra đổ 01 phần vào cái nỏ và cùng B sử dụng, phần còn lại Q chia ra làm 02 bịch bằng như nhau và đưa cho B 01 bịch, B cầm bịch ma túy xem và đưa lại cho Q tiếp tục cất giữ. Lúc 07 giờ 30 phút ngày 21/3/2020, Phan Minh Q điều khiển xe mô tô biển số 71AB-007.22 chở Trần Văn B về đến ấp B, xã T, huyện C, bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 bịch ma túy.
Theo kết luận giám định số 55/KLGĐ-PC09 ngày 24/3/2020, của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng trong 02 gói nilon màu trắng, được hàn kín có viền xanh một đầu, để trong một bì thư màu trắng được niên phong (ký hiệu gói số 01) có các chữ ký ghi họ tên: Phan Minh Q và Trần Văn B (người bị bắt), Nguyễn Ngọc C (Điều tra viên), Đỗ Lê N (cán bộ niêm phong), Giảng Tuấn C và Võ Thành T (người chứng kiến), Triệu Minh Thiện (Phó trưởng Công an xã T và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Công an xã T – Công an huyện C – tỉnh Tiền Giang; gởi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng là 0,2144 gam, loại Methamphetamine.
Sau khi giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang đã
hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C: Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 55 ghi ngày 24/3/2020, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Cao L1 (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng được dán kín, chứa 0,1643 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 02 (hai) vỏ bao gói nilon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì
về Kết luận giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSCL ngày 06 tháng 7 năm 2020 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 12 đến 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về vật chứng:
+ Xe mô tô biển số 71AB-007.22: Qua điều tra xác định là của chị Huỳnh
Cẩm L1 sinh năm 1968, ngụ ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (mẹ của bị can Trần Văn B), chị L1 không biết B sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trao trả xe mô tô này cho chị Huỳnh Cẩm L1.
+ Trả lại cho bà Đoàn Thị C số tiền 315.000 đồng và 01 cái diện thoại di
đông hiệu màu vàng, đen. Trả lại cho bị cáo 01 cái điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ.
Tịch thu, xung quỹ nhà nước các vật chứng:
+ 01 ống nhựa màu xanh, nhọn 01 đầu.
+ 01 cái nỏ bằng thủy tinh.
+ 01 cái quẹt gas màu đỏ.
+ 04 ống hút bằng nhựa nhiều màu.
+ 05 bịch nilon bên trong không có chứa gì, gồm: 03 bịch nilon màu trắng
hàn kín xung quanh có kích thướt (2,5 x 1,5) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền xanh một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền đỏ một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm.
+ 01 cái hộp hình vuông bằng kim loại màu vàng có kích thướt (13 x 09 x 02) cm.
+ Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 55 ghi ngày 24/3/2020, có
chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Cao L1 (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng được dán kín, chứa 0,1643 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 02 (hai) vỏ bao gói nilon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyện Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện bị cáo B đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và đủ cơ sở để cho Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất bị cấm
lưu hành trái phép, là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện, làm mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc. Ma túy là nguồn gốc làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm tha hóa lối sống, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội và là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV. Bị cáo là người đã thành niên nên có đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật cũng như tác hại của nó, lẽ ra phải biết tránh xa tệ nạn này, biết tu dưỡng, rèn luyện để sống có ích, nên nếu không xử lý nghiêm khắc thì không thể phát huy được tính răn đe của pháp luật và phòng chống tội phạm chung cho toàn xã hội nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có thời gian nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật và cai nghiện ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo
đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự (ngày 20/3/2020,
bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy).
Về vật chứng:
- Áp dụng điểm khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bà
Đoàn Thị C số tiền 315.000 đồng và 01 cái điện thoại di động hiệu Vivo màu vàng, đen. Trả lại cho bị cáo 01 cái điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ do không phải là vật chứng của vụ án.
- Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy
các vật chứng:
+ 01 ống nhựa màu xanh, nhọn 01 đầu.
+ 01 cái nỏ bằng thủy tinh.
+ 01 cái quẹt gas màu đỏ.
+ 04 ống hút bằng nhựa nhiều màu.
+ 05 bịch nilon bên trong không có chứa gì, gồm: 03 bịch nilon màu trắng
hàn kín xung quanh có kích thướt (2,5 x 1,5) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền xanh một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền đỏ một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm.
+ 01 cái hộp hình vuông bằng kim loại màu vàng có kích thướt (13 x 09 x 02)
cm.
+ Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 55 ghi ngày 24/3/2020, có
chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Cao L1 (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng được dán kín, chứa 0,1643 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 02 (hai) vỏ bao gói nilon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định do là công cụ, phương tiện phạm tôi và không còn giá trị sử dụng .
Người có QLNVLQ Huỳnh Cẩm L1 đã nhận lại xe mô tô biển kiểm
soát 71AB-007.22 và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí tòa án;
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nội dung vụ án
và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng: Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Phạt bị cáo Trần Văn B 18 (mười tám) tháng tù về tội tàng trữ trái phép
chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 21/3/2020.
2. Về vật chứng:
- Giao trả lại cho bà Đoàn Thị C số tiền 315.000 đồng và 01 cái điện thoại
di động hiệu Vivo màu vàng, đen. Trả lại cho bị cáo Trần văn B 01 cái điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ do không phải là vật chứng của vụ án ngay sau khi án có hiệu luật pháp luật.
- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:
+ 01 ống nhựa màu xanh, nhọn 01 đầu.
+ 01 cái nỏ bằng thủy tinh.
+ 01 cái quẹt gas màu đỏ.
+ 04 ống hút bằng nhựa nhiều màu.
+ 05 bịch nilon bên trong không có chứa gì, gồm: 03 bịch nilon màu trắng
hàn kín xung quanh có kích thướt (2,5 x 1,5) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền xanh một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền đỏ một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm.
+ 01 cái hộp hình vuông bằng kim loại màu vàng có kích thướt (13 x 09 x 02) cm.
+ Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 55 ghi ngày 24/3/2020, có
chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Cao L1 (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng được dán kín, chứa 0,1643 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 02 (hai) vỏ bao gói nilon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
4. Về án phí: Bị cáo Trần văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự; Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh TG
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện C;
- Công an huyện C;
- THADS huyện C;
- UBND xã T;
- Các đương sự;
- Lưu.
Hà Văn Phúc TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN C
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH TIỀN GIANG
B BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi…..giờ….. ngày 13 tháng 8 năm 2020,
Tại tại trụ Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Phúc;
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Trần Trọng Quang;
2. Ông Nguyễn Văn Hiền.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2018/HSST ngày 07
tháng 7 năm 2020 đối với:
Bị cáo Trần Văn B, sinh năm 1991 tại ấp Bình Đức, xã T, huyện C, tỉnh Tiền
Giang.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên toà, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội tàng trữ trái phép
chất ma túy.
Kết quả biểu quyết 3/3
2. Về điều luật áp dụng: Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết 3/3
3. Về mức hình phạt: Phạt bị cáo Trần Văn B 18 (mười tám) tháng tù về tội
tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 21/3/2020.
Kết quả biểu quyết 3/3
4. Về vật chứng:
- Giao trả lại cho bà Đoàn Thị C số tiền 315.000 đồng và 01 cái điện thoại
di động hiệu Vivo màu vàng, đen. Trả lại cho bị cáo Trần văn B 01 cái điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ do không phải là vật chứng của vụ án ngay sau khi án có hiệu luật pháp luật.
- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:
+ 01 ống nhựa màu xanh, nhọn 01 đầu.
+ 01 cái nỏ bằng thủy tinh.
+ 01 cái quẹt gas màu đỏ.
+ 04 ống hút bằng nhựa nhiều màu.
+ 05 bịch nilon bên trong không có chứa gì, gồm: 03 bịch nilon màu trắng
hàn kín xung quanh có kích thướt (2,5 x 1,5) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền xanh một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền đỏ một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm.
+ 01 cái hộp hình vuông bằng kim loại màu vàng có kích thướt (13 x 09 x 02) cm.
+ Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 55 ghi ngày 24/3/2020, có
chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Cao L1 (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng được dán kín, chứa 0,1643 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 02 (hai) vỏ bao gói nilon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kết quả biểu quyết 3/3
5. Về án phí: Bị cáo Trần văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nghị án kết thúc vào hồi…....giờ..….phút, ngày 13 tháng 8 năm 2020.
B bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử
cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiền – Dƣơng Trần Trọng Quang
Hà Văn Phúc
THỦ TỤC BẮT DẦU PHIÊN TÒA
1. HĐXX vào phòng xử án:
- Hôm nay ngày 29 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở TAND huyện C, tỉnh Tiền
Giang mở phiên tòa xét xử vụ án HSST đối với bị cáo Lê Chí C bị VKS nhân dân huyện C truy tố về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ .
- Thay mặt HĐXX Tôi tuyên bố khai mạc phiên tòa.
- Thay mặt HĐXX tôi công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử
- Bị cáo C và các đương sự khác đứng nghe công bố quyết định đưa vụ án
ra xét xử. Mời các thành viên HĐXX, đại diện KSV, Thư Ký phiên tòa, và những người phía sau ngồi xuống.
- Đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử,
2. Mời thƣ ký báo cáo danh sách những ngƣời đƣợc triệu tập đến
tham dự phiên toà:
Theo báo cáo của thư ký phiên toà thì tại phiên toà hôm
nay………………... …………………………………………................................................................. ....
Mời
đại
diện
VKS
cho
biết
ý kiến…………………………………………....
Xét thấy việc vắng mặt………………………………………..........không
ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, theo đề nghị của đại diện VKS, HĐXX tiếp tục việc xét xử.
3. Tiếp theo tôi kiểm tra căn cƣớc những ngƣời đƣợc triệu tập đến
tham dự phiên toà đã có mặt:
* Yêu cầu bị cáo C đứng lên:
- Bị cáo họ tên gì? Còn có tên gì khác không?
- B/C sinh ngày tháng năm nào? Nơi sinh ở đâu?
- Nơi cư trú của bị cáo?
- B/C làm nghề gì?
- B/C học đến lớp mấy?
- Họ tên cha bị cáo? Trú ở đâu?
- Họ tên mẹ bị cáo tên họ là gì? Trú ở đâu?
- Bị cáo có vợ con gì chưa?
- Bị cáo có tiền án không? Có lần nào bị kết án chưa? (về tội gì? hình
phạt? thời gian nào?)
- Có tiền sự gì không? hoặc đã bị xử lý về hành chính chưa? (nếu có thì
bị xử lý hành vi gì? thời gian nào?
- B/C có bị tạm giữ, tạm giam không? Từ ngày nào? ngày
……………….
4. Tiếp theo TM HĐXX tôi giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo và
các đƣơng sự tham gia phiên toà: Bị cáo, bị hại và người làm chứng nghe xem pháp luật……………………………………………...………..……………………… ….
BỊ CÁO : Đ 61 B/C có quyền
B/C có nghĩa vụ
- Được giao nhận QĐXX và các QĐ tố tụng khác;
- Phải có mặt theo theo triệu tập TA
- Được tham gia phiên tòa;
- Được đề nghị thay đổi người tiến - Chấp hành nghiêm chỉnh nội qui phiên tòa hành tố tụng nếu xét thấy họ không - Phải thành khẩn khai bào, khai trung thực hành vi trung thực, khách quan khi làm phạm tội. Việc bị cáo thành khẩn khai báo và khai nhiệm vụ;
báo trung thực hành vi phạm tội được xem là tình
- Được tự bào chữa hoặc nhờ người tiết giải nhẹ hình phạt cho bị cáo khi HĐXX lượng khác bào chữa;
hình.
- B/C được nói lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án;
- Được kháng có bản án, QĐ của toà án.
* Đối với người bị hại: ĐIỀU 62 Có quyền
Có nghĩa vụ
- Được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu - Phải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy PT. cầu;
- Phải có mặt theo triệu tập của tòa án.
- Được đề nghị thay đổi người tiến - Phải khai báo trung thực những tình tiết liên quan hành tố tụng;
đến việc BTTH.
- Được tham gia phiên tòa, trình bày - Bị hại nếu từ chối khai báo mà không có lý do ý kiến và tranh luận tại phiên tòa.
chính đáng thì phải chịu TNHS theo điều 308 BLHS.
- Được đề nghị mức BTTH và biện pháp bảo đảm.
- K/c bản án; QĐ của toà án về phần BTTH và hình phạt đối với bị cáo
* Đối với người làm chứng: ĐIỀU 66
- Có quyền:
+ Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân
phẩm, tài sản…
+ Được thanh toán chi phí làm chứng.
+ Khiếu nại quyết định, hành vì tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ
quan tiến hành tố tụng.
- Nghĩa vụ:
+ Phải chấp hành nội quy PT.
+ Phải có mặt theo giấy triệu tập của tòa án; trường hợp cố ý không đến
mà không có lý do chính đáng thì bị dẫn giải.
+ Phải cam kết khai báo trung thực các tình tiết liên quan đến vụ án mà
mình biết. Nếu trốn tránh việc khai báo hoặc từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu TN về tội khai báo gian dối, từ chối khai báo theo điều 307, 308 BLHS.
Tôi Giải thích việc thay đổi HTND và Kiểm sát viên tham gia phiên
tòa : Theo QĐ đưa vụ án ra xét xử thì HTND tham gia xx vụ án là ông .......................... và ông ............................... nhưng do ...................................... bận
công
tác
đột
xuất
nên
C
án
phân
công ............................................................................. tham gia xx vụ án, hỏi bị cáo và các đương sự có đồng ý việc thay đổi HTND không?
5. Để bị cáo và các đƣơng thực hiện quyền yêu cầu thay đổi những
ngƣời tiến hành tố tụng tôi giới thiệu lại họ tên các thành viên HĐXX và những ngƣời tiến hành tố tụng:
HĐXX hôm nay gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà là Ông Hà Văn Phúc tức là tôi.
Ngồi phía bên tay …………..….tôi là ông ........................ - HTND
Ngồi phía bên tay………..……..tôi là ông ........................ - HTND
Ngồi phía trước bên trái ở bàn thư ký là bà Huỳnh Thị Thùy Trang – CB
TAND huyện C.
Ngồi phía trước bên phải ở bàn KSV là ông Phạm Văn Nhớ – KSV.
Hỏi bị cáo C:
- Bị cáo có nghe rõ nội dung phần thủ tục bắt đầu phiên toà tôi vừa phổ biến
không?
- Bị cáo yêu cầu thay đổi ai trong thành viên HĐXX và những người tiến
hành tố tụng không?
- Tại PT hôm nay B/C có yêu cầu LS bào chữa cho bị cáo không? nếu
không có vậy b/cáo tự bào chữa để bảo về quyền lợi cho mình
- Tại phiên toà hôm nay B/C có đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu hoặc cung
cấp thêm chứng cứ mới hay yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng không?
- B/C có nhận được cáo trạng của VKS chưa?
- B/C có được TA tống đạt QĐ đưa vụ án ra xét xử chưa?
- Cách đây bao lâu?
- Cho bị cáo ngồi xuống
Hỏi người có QLNVLQ:
- Chị có nghe rõ nội dung phần thủ tục bắt đầu phiên toà tôi vừa phổ biến?
- Chị có yêu cầu thay đổi ai trong thành viên HĐXX không?
- Tại phiên toà hôm nay chị có cung cấp thêm tài liệu, đồ vật, chứng cứ mới
hoặc yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng không?
- Mời chị ngồi xuống
Phần thủ tục bắt đầu phiên toà tôi vừa phổ biến xong:
- Mời các thành viên HĐXX có ý kiến bổ sung thêm gì không?
- Mời Đại diện VKS có ý kiến gì ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà không?
Nếu nhƣ không ai có ý kiến hay yêu cầu gì ở phần thủ tục bắt đầu
phiên toà.
Thay mặt HĐXX tôi tuyên bố kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên
toà.
Chuyển sang phần tranh tụng.
PHẦN XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA
- Mời đại diện VKS công bố bản cáo trạng: Bị cáo C đứng lên nghe đại
diện VKS công bố bản cáo trạng.
- Hỏi bị cáo:
+ B/c có nghe rõ nội dung bản cáo trạng mà đại diện VKS vừa công bố
không?
+ Có đúng với nội dung bản cáo trạng VKS tống đạt cho bị cáo không?
(không đúng, điểm nào?)
+ Trong quá trình điều tra, truy tố bị có thành khẩn trung thực
không? Có ai ép cung hay thông cung gì cho bị cáo không?
- Hỏi nội dung vụ án:
*Đối với bị cáo:
1. Hành vi bị cáo:
- Thời gian, không gian:
- Vào ngày 13/01/2017 bị cáo làm việc gì, ở đâu?
- Bị cáo trình bày lại quá trình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật?
- Thủ đoạn thực hiện hành vi:
- Công cụ, phƣơng tiện:
Nhũng vất chứng khác bị thu giữ như:
- Bị cáo sử dụng làm gì? Mục dích để làm gì?
- Bc có nhận lại chúng không?
- Động cơ, mục đích:
Có thống nhất kết quả giám định không
- Ý thức bị cáo khi thực hiện hành vi:
Bị cáo có ý thức như thế nào khi thực hiện hành vi?
2. Tình tiết tăng nặng TNHS: Có lần nào bị kết án chưa? (về tội gì? Hình phạt ntn? Vào thời gian nào?) Có bị xử lý về hành chính chưa? (nếu có thì bị xử lý hành vi gì? Vào thời gian nào?) Có có bị tạm giữ, tạm giam không? Từ ngày nào?
3. tình tiết giảm nhẹ TNHS
4. Nhân thân bị cáo:
4. Bồi thƣờng thiệt hại: Đến nay đã bồi thường khắc phục gì cho bị hại chưa, Bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì không
5. Tang vật bị thu giữ và xử lí:
6. Hoàn cảnh gia đình: Có chồng chưa, ly hôn, con ai nuôi? Bị cáo có mấy anh chị em, Lớn nhất bao nhiêu tuổi, nhỏ nhất bao nhiêu tuổi
7. Ăn năn hối cải: Bị cáo thấy mình bị VKS truy tố về tội trộm cắp tài sản có đúng không Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay thấy mình có oan sai gì không Bị cáo có suy nghĩ gì sau khi thực hiện hành vi trộm xe
* Ngƣời liên quan
- Chủ yếu tang vật thu giữ
Mời Các thành viên HĐXX tham gia xét hỏi
Mời đại diện VKS tham gia xét hỏi
Hỏi KSV, bị cáo và những ngƣời tham gia phiên toà, có ai yêu cầu
HĐXX xét hỏi thêm vấn đề gì nữa không.
Nếu không có ai yêu cầu gì thêm, Thay mặt HĐXX tôi tuyên bố
kết thúc phần thủ tục xét hỏi, chuyển sang phần tranh luận
PHẦN TRANH LUẬN
Mời đại diện VKS trình bài kết luận luận tội đối với bị cáo.
Điều luật áp
dụng:……………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……….
Đề nghị mức
án:…………………………………………………………….……….
Hỏi bị cáo:
- Bị cáo có nghe rõ kết luận luận tội của đại diện Vks không
- Bị cáo có lời bào chửa đối với kết luận luận tội của đại diện VKS không
- Có ý kiến tranh luận gì không
Hỏi ngƣời giám NLQ:
- có nghe rõ kết luận luận tội của đại diện Vks đối với b/cáo không
- có ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích của mình không
- có ý kiến tranh luận gì không
- có ý kiến ntn đối với TNHS của bị cáo
Hỏi bị cáo, đại diện bị hại có đối đáp tranh luận gì với kết luận luận tội
của VKS:
Nếu các bên không có ý kiến tranh luận, thay mật HĐXX tôi tuyên bố
kết thúc phần tranh luận
- Bị cáo đƣợc nói lời nói sau cùng trƣớc khi HĐXX vào phòng nghị án.
- Lời nói sau cùng của bị cáo đã đƣợc HĐXX lắng nghe và sẽ đƣợc xem
xét khi lƣợng hình.
NGHỊ ÁN
- HĐXX vào phòng nghị án
- Giao bị cáo cho cảnh sát hổ tợ tƣ pháp quản lý trong thời gian HĐXX
nghị án
1. Tội danh;2. Điều luật áp dụng;3. TTTN, TTGN;4. Hình phạt;5.
TNDS; 6. Xử lý vật chứng; 7. Án phí VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH TIỀN GIANG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
HUYỆN C
C, ngày 06 tháng 7 năm 2020
Số: 27 /CT-VKSHCL
CÁO TRẠNG
VIỆN TRƢỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN C
- Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 29 ngày 27 tháng 3 năm
2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ các Quyết định khởi tố bị can số 24, 25 ngày 27 tháng 3 năm
2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, đối với Phan Minh Q, Trần Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 892 ngày 05 tháng 6 năm
2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, đối với Phan Minh Q, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ Bản kết luận điều tra số 984/KLĐT ngày 17 tháng 6 năm 2020
của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Lúc 07 giờ 30 phút ngày 21/3/2020, Phan Minh Q điều khiển xe mô tô
biển số 71AB-007.22 lưu thông trên đường tỉnh lộ 864, chở phía sau Trần Văn B, khi đến ấp B, xã T, huyện C, bị Công an huyện C chặn dừng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phan Minh Q đang tàng trữ ma túy trong túi áo khoát bên ngực trái của Q đang mặc trên người. Vật chứng thu giữ được gồm:
+ Hai bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu,
có viền xanh một đầu, kích thướt (2,5 x 1,6) cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong trong bì thư màu trắng có dòng chữ: Ủy ban nhân dân xã T, có chữ ký xác nhận của Nguyễn Ngọc Chẩn (Điều tra viên), Đỗ Lê Nhã (cán bộ niêm phong), Triệu Minh Thiện (Phó trưởng Công an xã T, huyện C), Giảng Tuấn C và Võ Thành Trung (người chứng kiến), Phan Minh Q và Trần Văn B (người bị bắt), được niêm phong ký hiệu gói số 01.
+ Hai điện thoại di động (01 cái màu vàng đen hiệu Vivo và 01 cái màu
đỏ hiệu Nokia).
+ 01 ống nhựa màu xanh, nhọn 01 đầu.
+ 01 cái nỏ bằng thủy tinh.
+ 01 cái quẹt gas màu đỏ.
+ 04 ống hút bằng nhựa nhiều màu.
+ 05 bịch nilon bên trong không có chứa gì, gồm: 03 bịch nilon màu trắng
hàn kín xung quanh có kích thướt (2,5 x 1,5) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền xanh một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm; 01 bịch nilon màu trắng hàn kín xung quanh có khe bóp hở một đầu, có viền đỏ một đầu, có kích thướt (2,5 x 02) cm.
+ Tiền 315.000 đồng (ba trăm mười lăm nghìn đồng).
+ 01 cái hộp hình vuông bằng kim loại màu vàng có kích thướt (13 x 09 x
02) cm.
+ 01 xe mô tô biển số 71AB-007.22.
(Bút lục số: 01, 02).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Phan Minh Q và Trần
Văn B khai nhận như sau: Phan Minh Q và Trần Văn B là bạn bè, cả hai đã nhiều lần hùn tiền mua ma túy để sử dụng chung, mỗi lần hùn mỗi người từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Khoảng 01 giờ ngày 21/3/2020, Q và B cùng đến thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè chơi, cả hai thỏa thuận hùn tiền mỗi người 200.000 nghìn đồng để mua ma túy sử dụng chung, B đưa cho Q 200.000 đồng để Q trực tiếp mua ma túy. Q điều khiển xe mô tô biển số 71AB-007.22 chở B đến khu vực cầu Cái Bè 2, thị trấn Cái Bè, tại đây Q mua 01 bịch ma túy của một thanh niên có biệt danh “Anh Ba” (chưa rõ họ, tên và địa chỉ) giá 400.000 đồng. Mua được ma túy, Q lấy bịch ma túy ra đổ 01 phần vào cái nỏ và cùng B sử dụng, phần còn lại Q chia ra làm 02 bịch bằng như nhau và đưa cho B 01 bịch, B cầm bịch ma túy xem và đưa lại cho Q tiếp tục cất giữ. Lúc 07 giờ 30 phút ngày 21/3/2020, Phan Minh Q điều khiển xe mô tô biển số 71AB-007.22 chở Trần Văn B về đến ấp B, xã T, huyện C, bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 bịch ma túy. (Bút lục số: 92, 93, 133-138, 139, 140)
Theo kết luận giám định số 55/KLGĐ-PC09 ngày 24/3/2020, của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng trong 02 gói nilon màu trắng, được hàn kín có viền xanh một đầu, để trong một bì thư màu trắng được niên phong (ký hiệu gói số 01) có các chữ ký ghi họ tên: Phan Minh Q và Trần Văn B (người bị bắt), Nguyễn Ngọc Chẩn (Điều tra viên), Đỗ Lê Nhã (cán bộ niêm phong), Giảng Tuấn C và Võ Thành Trung (người chứng kiến), Triệu Minh Thiện (Phó trưởng Công an xã T và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Công an xã T – Công an huyện C – tỉnh Tiền Giang; gởi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng là 0,2144 gam, loại Methamphetamine. (Bút lục số: 28).
Sau khi giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang đã
hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C: Một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 55 ghi ngày 24/3/2020, có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Thị Kiều L1 (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Cao L1 (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng được dán kín, chứa 0,1643 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 02 (hai) vỏ bao gói nilon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định. (Bút lục: 27)
Về xử lý vật chứng: Qua điều tra xác định xe mô tô biển số 71AB-007.22
là của chị Huỳnh Cẩm L1 sinh năm 1968, ngụ ấp Bình Đức, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (mẹ của bị can Trần Văn B), chị L1 không biết B sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trao trả xe mô tô này cho chị Huỳnh Cẩm L1. Các vật chứng còn lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ chờ xử lý. (Bút lục số 144, 145, 157, 168)
Ngày 31/5/2020, bị can Phan Minh Q chết do bệnh lý, Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện C đã ra quyết định Đình chỉ điều tra bị can đối với Phan Minh Q. (Bút lục số 160, 161)
Trong quá trình điều tra, bị can Trần Văn B có thái độ thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải, căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,
KẾT LUẬN
Lúc 07 giờ 30 phút ngày 21/3/2020, tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền
Giang. Trần Văn B cùng với Phan Minh Q tàng trữ 02 bịch ma túy có tổng khối lượng là 0,2144 gam, loại Methamphetamine, bị Công an huyện C phát hiện bắt quả tang.
Như vậy đã có đủ căn cứ xác định bị can có lý lịch dưới đây phạm
tội như sau:
Họ và tên: Trần Văn B; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991;
- Sinh và trú quán: ấp Bình Đức, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
- Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Trình độ học vấn: 9/12;
* Quan hệ gia đình:
- Cha: Trần Văn L, sinh năm 1968; nghề nghiệp: làm vườn.
- Mẹ: Huỳnh Cẩm L1, sinh năm 1968; Nghề nghiệp: làm vườn.
Cả hai ngụ cùng địa chỉ với bị can.
- Anh em ruột có 04 người, bị can là con thứ ba trong gia đình.
- Vợ: Lê Thanh M sinh năm 1995, đã ly hôn.
- Bị can có 01 người con sinh năm 2014.
- Tiền án: không.
- Tiền sự: 01 lần, ngày 20/3/2020, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C,
quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Bị can bị tạm giữ từ ngày 21/3/2020 đến ngày 27/3/2020, chuyển tạm
giam từ ngày 27/3/2020 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị can Trần Văn B đã phạm vào tội
Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ Luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)……….;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Bị can Trần Văn B được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
Trên cơ sở những chứng cứ nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện C để xét xử đối với bị can Trần
Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
2. Kèm theo Cáo trạng có:
- Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, bằng tờ; đánh số thứ tự từ 01 đến
.
- Danh sách những người Viện kiểm sát đề nghị Tòa án triệu tập đến
phiên tòa.
KT.VIỆN TRƢỞNG
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân huyện C; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Cơ quan CSĐT- CA huyện C; - Hồ sơ vụ án; - Hồ sơ kiểm sát án hình sự; - Bị can; - Lưu. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TIỀN GIANG B BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH TIỀN GIANG - Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Phúc; - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư 2. Bà Đồng Thị Mười Căn cứ vào các Điều 199 và Điều 222 BLTTHS Vào hồi 10 giờ ngày 07 tháng 6 năm 2018, tại tại trụ TAND huyện C, tỉnh Tiền Giang. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với bị cáo ngô Thị Diễm Kiều bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theođiểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: 1. Về tội danh: Kết luận bị cáo bị cáo Ngô Thị Diễm Kiều phạm tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; Kết quả biểu quyết 3/3 2. Về điều luật áp dụng: Điều 38; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Kết quả biểu quyết 3/3 3. Về mức hình phạt: Xử: Phạt bị cáo Ngô Thị Diểm Kiều 12 (mười hai) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm Kết quả biểu quyết 3/3 4. Về tang vật: Áp dụng Khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình tuyên tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) bộ bình tự chế dùng để sử dụng ma túy (có bình bằng nhựa, nắp màu tím, ống hút màu trắng vàng và nỏ thủy tinh); hai ống hút màu tím trắng; một ống hút nhọn một đầu màu xanh; một cái nỏ thủy tinh; một cái bậc lửa màu vàng; một cái hộp nhựa màu trắng; một cái túi xách màu đen (balô mini); - Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong 01 (một) bì thư được niêm phong (ký hiệu B1) gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,5784 gam, loại Methamphetamine. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang đã hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C mẫu tinh thể màu trắng ký hiệu M còn lại sau giám định có trọng lượng là 0,3162 gam, được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 30. Kết quả biểu quyết 3/3 6. Về án phí: Bị cáo Ngô Thị Diễm Kiều phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Vũ Hải Đăng và Trần Thị Thu Trang có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Kết quả biểu quyết 3/3. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TIỀN GIANG B BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH TIỀN GIANG - Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Phúc; - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Thanh 2. Ông Võ Kế An Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 BLTTHS Vào hồi 10 giờ ngày 14 tháng 6 năm 2018, tại tại trụ TAND huyện C, tỉnh Tiền Giang. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với bị cáo Nguyễn Quốc C bị truy tố về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự; Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: 1. Về tội danh: Kết luận bị cáo bị cáo Ngô Thị Diễm Kiều phạm tội tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; Kết quả biểu quyết 3/3 2. Về điều luật áp dụng: Điều 38; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Kết quả biểu quyết 3/3 3. Về mức hình phạt: Xử: Phạt bị cáo Ngô Thị Diểm Kiều 12 (mười hai) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm Kết quả biểu quyết 3/3 4. Về tang vật: Áp dụng Khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình tuyên tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) bộ bình tự chế dùng để sử dụng ma túy (có bình bằng nhựa, nắp màu tím, ống hút màu trắng vàng và nỏ thủy tinh); hai ống hút màu tím trắng; một ống hút nhọn một đầu màu xanh; một cái nỏ thủy tinh; một cái bậc lửa màu vàng; một cái hộp nhựa màu trắng; một cái túi xách màu đen (balô mini); - Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong 01 (một) bì thư được niêm phong (ký hiệu B1) gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,5784 gam, loại Methamphetamine. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang đã hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C mẫu tinh thể màu trắng ký hiệu M còn lại sau giám định có trọng lượng là 0,3162 gam, được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 30. Kết quả biểu quyết 3/3 6. Về án phí: Bị cáo Ngô Thị Diễm Kiều phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Vũ Hải Đăng và Trần Thị Thu Trang có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Kết quả biểu quyết 3/3. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA THỦ TỤC BẮT DẦU PHIÊN TÒA 1. HĐXX vào phòng xử án: - Hôm nay ngày 03 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở TAND huyện C, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử vụ án HSST đối với bị cáo Nguyễn Quốc C bị VKS nhân dân huyện C truy tố về tội có ý gây thương tích. - Thay mặt HĐXX Tôi tuyên bố khai mạc phiên tòa. - Thay mặt HĐXX tôi công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử - Bị cáo C và các đương sự khác đứng nghe công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử. Mời các thành viên HĐXX, đại diện KSV, Thư Ký phiên tòa, và những người phía sau ngồi xuống. - Đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng hoãn lý do……………………… - Cho bị cáo và các đương sự ngồi xuống 2. Mời thƣ ký báo cáo danh sách những ngƣời đƣợc triệu tập đến tham dự phiên toà: Theo báo cáo của thư ký phiên toà thì tại phiên toà hôm nay………………... …………………………………………................................................................. .... Mời đại diện VKS kiến………………………………………….... Xét thấy mặt……………………………………………..........không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, theo đề nghị của đại diện VKS, HĐXX tiếp tục việc xét xử. 3. Tiếp theo tôi kiểm tra căn cƣớc những ngƣời đƣợc triệu tập đến tham dự phiên toà đã có mặt: * Yêu cầu bị cáo C đứng lên: - Bị cáo họ tên gì? Còn có tên gì khác không? - B/C sinh ngày tháng năm nào? Nơi sinh ở đâu? - Nơi cư trú của bị cáo? - B/C làm nghề gì? - B/C học đến lớp mấy? - Họ tên cha bị cáo? Trú ở đâu? - Họ tên mẹ bị cáo tên họ là gì? Trú ở đâu? - Bị cáo có vợ con gì chưa? - Bị cáo có tiền án không? Có lần nào bị kết án chưa? (về tội gì? hình phạt? thời gian nào?) - Có tiền sự gì không? hoặc đã bị xử lý về hành chính chưa? (nếu có thì bị xử lý hành vi gì? thời gian nào? - B/C có bị tạm giữ, tạm giam không? Từ ngày nào? ngày ………………. 4. Tiếp theo TM HĐXX tôi giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo và các đƣơng sự tham gia phiên toà: Bị cáo, bị hại và người làm chứng nghe xem pháp luật……………………………………………...………..……………………… …. BỊ CÁO : Đ 61 B/C có quyền - Được giao nhận QĐXX và các QĐ tố tụng khác; - Được tham gia phiên tòa; - Được đề nghị thay đổi người tiến - Chấp hành nghiêm chỉnh nội qui phiên tòa hành tố tụng nếu xét thấy họ không - Phải thành khẩn khai bào, khai trung thực hành vi trung thực, khách quan khi làm phạm tội. Việc bị cáo thành khẩn khai báo và khai nhiệm vụ; - Được tự bào chữa hoặc nhờ người tiết giải nhẹ hình phạt cho bị cáo khi HĐXX lượng khác bào chữa; hình. - B/C được nói lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án; - Được kháng có bản án, QĐ của toà án. * Đối với người bị hại: ĐIỀU 62 Có quyền Có nghĩa vụ - Được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu - Phải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy PT. cầu; - Được đề nghị thay đổi người tiến - Phải khai báo trung thực những tình tiết liên quan hành tố tụng; - Được tham gia phiên tòa, trình bày - Bị hại nếu từ chối khai báo mà không có lý do ý kiến và tranh luận tại phiên tòa. - Được đề nghị mức BTTH và biện pháp bảo đảm. - K/c bản án; QĐ của toà án về phần BTTH và hình phạt đối với bị cáo * Đối với người làm chứng: ĐIỀU 66 - Có quyền: + Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tài sản… + Được thanh toán chi phí làm chứng. + Khiếu nại quyết định, hành vì tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. - Nghĩa vụ: + Phải chấp hành nội quy PT. + Phải có mặt theo giấy triệu tập của tòa án; trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng thì bị dẫn giải. + Phải cam kết khai báo trung thực các tình tiết liên quan đến vụ án mà mình biết. Nếu trốn tránh việc khai báo hoặc từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu TN về tội khai báo gian dối, từ chối khai báo theo điều 307, 308 BLHS. Tôi Giải thích việc thay đổi HTND và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa : Theo QĐ đưa vụ án ra xét xử thì HTND tham gia xx vụ án là ông .......................... và ông ............................... nhưng do ...................................... bận công tác đột xuất nên ............................................................................. tham gia xx vụ án, hỏi bị cáo và các đương sự có đồng ý việc thay đổi HTND không? 5. Để bị cáo và các đƣơng thực hiện quyền yêu cầu thay đổi những ngƣời tiến hành tố tụng tôi giới thiệu lại họ tên các thành viên HĐXX và những ngƣời tiến hành tố tụng: HĐXX hôm nay gồm có: Thẩm phán – chủ toạ phiên toà là Ông Hà Văn Phúc tức là tôi. Ngồi phía bên tay …………..….tôi là ông ........................ - HTND Ngồi phía bên tay………..……..tôi là ông ........................ - HTND Ngồi phía trước bên trái ở bàn thư ký là bà Huỳnh Thị Thùy Trang – CB TAND huyện C. Ngồi phía trước bên phải ở bàn KSV là ông Phạm Văn Nhớ – KSV. Hỏi bị cáo C: - Bị cáo có nghe rõ nội dung phần thủ tục bắt đầu phiên toà tôi vừa phổ biến không? - Bị cáo yêu cầu thay đổi ai trong thành viên HĐXX và những người tiến hành tố tụng không? - Tại PT hôm nay B/C có yêu cầu LS bào chữa cho bị cáo không? nếu không có vậy b/cáo tự bào chữa để bảo về quyền lợi cho mình - Tại phiên toà hôm nay B/C có đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu hoặc cung cấp thêm chứng cứ mới hay yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng không? - B/C có nhận được cáo trạng của VKS chưa? - B/C có được TA tống đạt QĐ đưa vụ án ra xét xử chưa? - Cách đây bao lâu? - Cho bị cáo ngồi xuống Hỏi người có QLNVLQ: - Chị có nghe rõ nội dung phần thủ tục bắt đầu phiên toà tôi vừa phổ biến? - Chị có yêu cầu thay đổi ai trong thành viên HĐXX không? - Tại phiên toà hôm nay chị có cung cấp thêm tài liệu, đồ vật, chứng cứ mới hoặc yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng không? - Mời chị ngồi xuống Phần thủ tục bắt đầu phiên toà tôi vừa phổ biến xong: - Mời các thành viên HĐXX có ý kiến bổ sung thêm gì không? - Mời Đại diện VKS có ý kiến gì ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà không? Nếu nhƣ không ai có ý kiến hay yêu cầu gì ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Thay mặt HĐXX tôi tuyên bố kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Chuyển sang phần tranh tụng. PHẦN XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA - Mời đại diện VKS công bố bản cáo trạng: Bị cáo C đứng lên nghe đại diện VKS công bố bản cáo trạng. - Hỏi bị cáo: + B/c có nghe rõ nội dung bản cáo trạng mà đại diện VKS vừa công bố không? + Có đúng với nội dung bản cáo trạng VKS tống đạt cho bị cáo không? (không đúng, điểm nào?) + Trong quá trình điều tra, truy tố bị có thành khẩn trung thực không? Có ai ép cung hay thông cung gì cho bị cáo không? - Hỏi nội dung vụ án: *Đối với bị cáo: 1. Hành vi bị cáo: - Thời gian, không gian: - Vào ngày 13/01/2017 bị cáo làm việc gì, ở đâu? - Bị cáo trình bày lại quá trình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật? - Thủ đoạn thực hiện hành vi: - Công cụ, phƣơng tiện: Nhũng vất chứng khác bị thu giữ như: - Bị cáo sử dụng làm gì? Mục dích để làm gì? - Bc có nhận lại chúng không? - Động cơ, mục đích: Có thống nhất kết quả giám định không Bị cáo có ý thức như thế nào khi thực hiện hành vi? 2. Tình tiết tăng nặng TNHS: Có lần nào bị kết án chưa? (về tội gì? Hình phạt ntn? Vào thời gian nào?) Có bị xử lý về hành chính chưa? (nếu có thì bị xử lý hành vi gì? Vào thời gian nào?) Có có bị tạm giữ, tạm giam không? Từ ngày nào? 3. tình tiết giảm nhẹ TNHS 4. Nhân thân bị cáo: 4. Bồi thƣờng thiệt hại: Đến nay đã bồi thường khắc phục gì cho bị hại chưa, Bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì không 5. Tang vật bị thu giữ và xử lí: 6. Hoàn cảnh gia đình: Có chồng chưa, ly hôn, con ai nuôi? Bị cáo có mấy anh chị em, Lớn nhất bao nhiêu tuổi, nhỏ nhất bao nhiêu tuổi 7. Ăn năn hối cải: Bị cáo thấy mình bị VKS truy tố về tội trộm cắp tài sản có đúng không Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay thấy mình có oan sai gì không Bị cáo có suy nghĩ gì sau khi thực hiện hành vi trộm xe * Ngƣời liên quan - Chủ yếu tang vật thu giữ Mời Các thành viên HĐXX tham gia xét hỏi Mời đại diện VKS tham gia xét hỏi Hỏi KSV, bị cáo và những ngƣời tham gia phiên toà, có ai yêu cầu HĐXX xét hỏi thêm vấn đề gì nữa không. Nếu không có ai yêu cầu gì thêm, Thay mặt HĐXX tôi tuyên bố kết thúc phần thủ tục xét hỏi, chuyển sang phần tranh luận PHẦN TRANH LUẬN Mời đại diện VKS trình bài kết luận luận tội đối với bị cáo. Điều luật áp dụng:…………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ………. Đề nghị mức án:…………………………………………………………….………. Hỏi bị cáo: - Bị cáo có nghe rõ kết luận luận tội của đại diện Vks không - Bị cáo có lời bào chửa đối với kết luận luận tội của đại diện VKS không - Có ý kiến tranh luận gì không Hỏi ngƣời giám NLQ: - có nghe rõ kết luận luận tội của đại diện Vks đối với b/cáo không - có ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích của mình không - có ý kiến tranh luận gì không - có ý kiến ntn đối với TNHS của bị cáo Hỏi bị cáo, đại diện bị hại có đối đáp tranh luận gì với kết luận luận tội của VKS: Nếu các bên không có ý kiến tranh luận, thay mật HĐXX tôi tuyên bố kết thúc phần tranh luận - Bị cáo đƣợc nói lời nói sau cùng trƣớc khi HĐXX vào phòng nghị án. - Lời nói sau cùng của bị cáo đã đƣợc HĐXX lắng nghe và sẽ đƣợc xem xét khi lƣợng hình. NGHỊ ÁN - HĐXX vào phòng nghị án - Giao bị cáo cho cảnh sát hổ tợ tƣ pháp quản lý trong thời gian HĐXX nghị án 1. Tội danh;2. Điều luật áp dụng;3. TTTN, TTGN;4. Hình phạt;5. TNDS; 6. Xử lý vật chứng; 7. Án phí | PHÓ VIỆN TRƢỞNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc C, ngày 07 tháng 6 năm 2018. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc C, ngày 14 tháng 6 năm 2018. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN cho biết ý việc vắng B/C có nghĩa vụ - Phải có mặt theo theo triệu tập TA báo trung thực hành vi phạm tội được xem là tình - Phải có mặt theo triệu tập của tòa án. đến việc BTTH. chính đáng thì phải chịu TNHS theo điều 308 BLHS. C án phân công - Ý thức bị cáo khi thực hiện hành vi: |