- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn C phạm tội “ Tàng trữ trái phép
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26 /2020/HSST Ngày 08/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Đức Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Đằng.
2. Bà Hoa Thị Vân.
-Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Cao Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/TLST- HS, ngày 07tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/QĐXXST- HS ngày 24/8/2020 đối với bị cáo:
Lý Văn C (tên gọi khác: Không) sinh năm 1983 (không xác định được ngày, tháng sinh), sinh tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Lý Văn T - sinh năm 1964 (đã chết) và bà Vàng Thị M - sinh năm 1964.
Trú Tại: Thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Vợ: Lý Thị D - năm sinh 1979.
Trú tại: Thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 tiền án: Bản án hình sự số 22/2015/HSST ngày 29/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Lý Văn C 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đến ngày 02/4/2018, Lý Văn C chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, Lý Văn C chưa chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm và bồi thường dân sự cho các bị hại.
Về nhân thân của bị cáo: 2009 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Lý Văn C 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, bản án này bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2020. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên toà
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hương T Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/6/2020, Lý Văn C đi bộ từ nhà tại thôn P, xã M đến chợ xã M, huyện B mục đích để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Lý Văn C gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 (một) gói ma túy được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ với giá 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng. Lý Văn C cầm gói ma túy và giở ra kiểm tra xác định là Hêrôin nên gói lại và cầm ở tay trái đi về nhà. Khi đi đến khu vực gần cầu sắt xã M, huyện B thì bị tổ công tác của Công an xã M, huyện B phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay trái Lý Văn C 01 gói giấy trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục.
Ngày 16/6/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra quyết định trưng cầu giám định về ma túy đối với vật chứng thu giữ của Lý Văn C ngày 16/6/2020.
Kết luận giám định về ma túy số 128/GĐMT ngày 18/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,38 (không phẩy ba mươi tám) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lý Văn C là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lý Văn C vào ngày 16/6/2020 tại chợ xã M, huyện B, do Lý Văn C không biết tên, tuổi và địa chỉ của người đàn ông này nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.
Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 06 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Lý Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Lý Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn C từ 01 năm 03 đến 01 năm 09 tháng tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: Áp dung điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,31 gam Hê rô in còn lại sau trích mẫu giám định.
+ Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của người bào chữa: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ cho rằng: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Lý Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn C mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 năm tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lý Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố và đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ kết luận, bị cáo Lý Văn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự mua 0,38 gam Hê rô in cất giấu với mục đích để sử dụng đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Lý Văn C đã thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự, trị an ở địa phương, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe, suy thoái giống nòi, là mầm mống dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, góp phần đẩy lùi và loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Cần phải đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật và quyết định mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lý Văn C có 01tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo.
Về mức hình phạt chính: bị cáo Lý Văn C tàng trữ 0,38 gam Hê rô in, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư theo điểm s khoản 1 Điều 51 và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nên mức hình phạt đối với bị cáo C như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, người bào chữa cho bị cáo C đề nghị cho bị cáo hưởng mức án đầu khung hình phạt là 01 năm tù là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, không được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Lý Văn C là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có lợi nhuận, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng gồm: 0,38 gam Hê rô in thu giữ của bị cáo, trích mẫu 0,07 gam giám định không hoàn lại, còn 0,31gam Hê rô in được tái niêm phong trong bì thư là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo, người bào chữa không có khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Lý Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn C phạm tội “ Tàng trữ trái phép
chất ma tuý”.
2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 16/6/2020.
3. Xử lý vật chứng :
- Tịch thu tiêu huỷ : 0,31(không phẩy ba mươi mốt) gam Hêrôin cùng mảnh giấy trắng có dòng kẻ và bì niêm phong ban đầu gửi giám định, được tái niêm phong trong bì thư in sẵn của phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn C ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai”. Tại các mép dán của bì thư có chữ ký ghi rõ họ tên của người tham gia niêm phong và điểm chỉ có ghi ngón trỏ phải của Lý Văn C, hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lý Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Bị cáo; - Phòng hồ sơ NV Công an tỉnh; - CCTHADS huyện; - CQCSĐT Công an huyện; - CQTHAHS Công an huyên; - Sở Tư pháp tỉnh Lào cai; - Lưu HS-THS-THAHS (5); | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Ngô Đức Quang |