vanban.org

Bản án 26/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 24/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2019. 2/- Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2020/HS-ST
Ngày: 24-6-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Ánh Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Tám – Cán bộ hưu trí;

2. Ông Huỳnh Ngọc Trứ – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cảnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2020/TLST- HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T; sinh ngày 28 tháng 7 năm 1992; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 174/3, khu phố 2, phường 5, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Thanh T1 và bà Đinh Thị Kim P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã và bị tạm giữ từ ngày 21/12/2019, chuyển tạm giam ngày 24/3/2019 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân T nghiện ma túy từ năm 2013. Khoảng 16 giờ ngày 14/7/2019, T đi bộ đến ngã tư thị xã Cai Lậy nhờ một người chạy xe hon da ôm chưa rõ họ tên và địa chỉ nhờ mua giúp ma túy với số tiền 500.000 đồng, trả công cho người này 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà và vào phòng ngủ lấy ra một ít để sử dụng, phần còn lại T để trên bàn. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công An thị xã Cai Lậy kiểm tra phát hiện và thu giữ số ma túy trên. Quá trình điều tra, T đã bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 06/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công An thị xã Cai Lậy ra quyết định truy nã, đến ngày 21/12/2019 Nguyễn Xuân T bị bắt giữ.

Vật chứng thu giữ, gồm: 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín một đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 chai nhựa có chữ Sting nắp màu đỏ được khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu xanh sọc trắng, một lỗ gắn nỏ thủy tinh màu trắng;01 đoạn ống nhựa màu xanh có một đầu nhọn; 01 điện thoại di động màu vàng hiệu Samsung model Grand Prime; 01 điện thoại di động màu xanh hiệu NoKia model 1010.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Cai Lậy thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đen, biển kiểm soát 83P1 – 418.09 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe khi bắt bị cáo theo lệnh truy nã.

Kết luận giám định số 127/KLGĐ-PC09 ngày 17/7/2019 của của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang xác định: mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong gói nylon màu trắng được hàn kín được niêm phong có chữ ký của bị cáo được gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,9626 gam loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSTXCL ngày 15/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Nguyễn T Xuân ra trước Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy để xét xử về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn T Xuân khai nhận: ngày 14/7/2019, bị cáo mua chất ma túy về nhà sử dụng một phần, phần còn lại để trên bàn thì bị Công an thị xã Cai Lậy khám xét thu giữ đúng như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Cai Lậy giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;

+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 bì thư niêm phong có ghi Phòng Kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang niêm phong mẫu vật hoàn trả số 127/KLG-PC09, có hình dấu tròn màu đỏ có ghi PHÒNG KỶ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG, bên trong có chứa hàm lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa có chữ Sting nắp màu đỏ được khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu xanh sọc trắng, một lỗ gắn nỏ thủy tinh màu trắng;01 đoạn ống nhựa màu xanh có một đầu nhọn và 01 hộp quẹt gas màu xanh.

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu vàng hiệu Samsung model Grand Prime; 01 điện thoại di động màu xanh hiệu NoKia model 1010.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2

Về chứng cứ xác định tội danh:

Lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân T tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Cai Lậy lập ngày 14/7/2019.

Mẫu tinh thể rắn màu trắng đựng bên trong túi nylon màu trắng thu giữ tại phòng ngủ của bị cáo vào ngày 14/7/2019 được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang tiến hành giám định và xác định là ma túy có tổng khối lượng 0,9626 gam loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự địa phương.

Bị cáo Nguyễn Xuân T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo cố ý thực hiện.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T đã bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho công tác điều tra, tuy không phải là tình tiết tăng nặng nhưng Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bị cáo rất xem thường pháp luật.

Thời gian qua tình hình nghiện hút, tiêm chích và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra phức tạp, nhất là đối với tầng lớp thanh thiếu niên đang là mối quan tâm, lo lắng của toàn xã hội; ma túy đã làm băng hoại thân thể, nhân cách và giống nòi, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm.

Đối với hành vi cất giấu chất ma túy trái phép để sử dụng của Nguyễn Xuân T cần xử phạt nghiêm khắc. Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự cải tạo bản thân thành công dân biết tôn trọng pháp luật; Đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm tương tự.

Xử lý vật chứng:

+ 01 bì thư niêm phong có ghi Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang niêm phong mẫu vật hoàn trả số 127/KLG-PC09, có hình dấu tròn màu đỏ có ghi PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong bì thư có chứa khối lượng ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3

+ 01 chai nhựa có chữ Sting nắp màu đỏ được khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu xanh sọc trắng, một lỗ gắn nỏ thủy tinh màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu xanh có một đầu nhọn và 01 bật lửa màu xanh (loạt quẹt gas) là vật bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ 01 điện thoại di động màu vàng hiệu Samsung model Grand Prime; 01 điện thoại di động màu xanh hiệu NoKia model 1010 là tài sản của bị cáo không liên quan tội phạm nên trả lại cho bị cáo là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đen, biển kiểm soát 83P1 – 418.09 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô thu giữ khi bắt bị cáo theo lệnh truy nã không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Điều tra Công an thị xã Cai Lậy đề nghị tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau là có căn cứ.

Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự do bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy đã phân tích chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo thực hiện; đề nghị xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối tượng bán ma túy cho bị cáo T có dấu hiệu tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Cha, mẹ của bị cáo T không biết việc bị cáo tàng trữ chất ma túy tại nhà của mình nên không liên quan hành vi phạm tội của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2019.

2/- Xử lý vật chứng:

4

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì thư niêm phong có ghi Phòng Kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang niêm phong mẫu vật hoàn trả số 127/KLG-PC09, có hình dấu tròn màu đỏ có ghi PHÒNG KỶ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG.

+ 01 chai nhựa có chữ Sting nắp màu đỏ được khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu xanh sọc trắng, một lỗ gắn nỏ thủy tinh màu trắng;01 đoạn ống nhựa màu xanh có một đầu nhọn và 01 hộp quẹt gas màu xanh.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T 01 điện thoại di động màu vàng hiệu Samsung model Grand Prime; 01 điện thoại di động màu xanh hiệu NoKia model 1010.

Các vật chứng nêu trên do Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/6/2020.

3/- Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/- Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ