vanban.org

Bản án 26/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 16/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh H 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cảnh H phạm tội "Chống người thi hành công vụ" - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2020/HS-ST
Ngày: 16 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Văn

Ông Trương Quang Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2020/TLST - HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Cảnh H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1987; Tại: Quảng Bình; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: TDP 4, PV, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc T; sinh năm: 1961; Nghề nghiệp: Cán bộ; con bà: Trần Thị H; sinh năm: 1962; Nghề nghiệp: Nội trợ; hiện ông, bà trú tại TDP 4 PV, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vợ: Trần Thị Thu P; Sinh năm: 1988; nghề nghiệp: Lao động tự do; có 01 người con, sinh năm 2016.

Nhân thân: Sinh ra và lớn lên được gia đình cho ăn học đến lớp 12/12 nghỉ học ở nhà lao động tự do. Ngày 01/6/2004 bị Công an thành phố Đ xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Năm 2006 đến 2008 học tại trường Trung cấp K-T-CN Quảng Bình. Năm 2008 đến 2014 lao động tự do. Năm 2014 đến năm 2018 làm nhân viên Cục H tỉnh Quảng Bình. Cuối năm 2018 nghỉ việc ở nhà lao động tự do cho đến ngày phạm tội. Ngày 11/12/2017 bị Công an thành phố Đ xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã thi hành xử phạt hành chính.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nguyễn Cảnh H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 02/3/2020 đến ngày ngày xét xử tại tổ dân phố 4 PV, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Thái D, sinh ngày: 05/9/1991; địa chỉ: TDP 15, phường B, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

2. Ông Đặng Ngọc B, sinh ngày 15/10/1967; địa chỉ: Thôn Đ, xã ĐN, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Quốc S, sinh ngày 06/6/1975; địa chỉ: TDP 4 PV, phường B, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

2. Anh Trương Văn T, sinh ngày 15/9/1972; địa chỉ: TDP 4 PV, phường B, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

3. Ông Trần Trọng T, sinh ngày 05/10/1964; địa chỉ: TDP 4 PV, phường B, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964; địa chỉ: TDP 4 PV, phường B, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

5. Bà Trần Thị H, sinh ngày 08/8/1962; địa chỉ: TDP 4 PV, phường B, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

6. Anh Phạm Ngọc M, sinh ngày 20/10/1991; địa chỉ: Xóm 16 PT, xã ĐT, huyện BT, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

7. Anh Hà Công N, sinh năm 1984; địa chỉ: TDP 10, phường Đ, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 25’ ngày 25/11/2019, Nguyễn Cảnh H sau khi uống rượu say tại nhà ở thuộc tổ dân phố 4 PV, phường B, thành phố Đ có hành vi gây mất trật tự ở khu dân cư. Khi lực lượng bảo vệ tổ dân phố đến khuyên vào nhà, H không chấp hành còn lên tiếng chửi bới, thách đố. Nhận được tin báo, Công an phường B cử tổ công tác gồm cán bộ Đặng Ngọc B và Nguyễn Thái D đến để giải quyết. Khi tổ công tác đến yêu cầu hợp tác làm việc thì H không chấp hành có lời lẽ xúc phạm, chạy vào trong nhà, khi trở ra đã có hành vi xông vào dùng chân đá vào người, tay đánh mặt anh Nguyễn Thái D bị bầm tím ở phần dưới mắt trái. Sau đó Nguyễn Cảnh H bị khống chế đưa về trụ sở Công an phường B làm việc.

Anh Nguyễn Thái D không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu Nguyễn Cảnh H bồi thường dân sự.

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSĐH-TA ngày 27 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Nguyễn Cảnh H về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại Khoản 1, Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo H đã thực hiện và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 330; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Cảnh H từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Cảnh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo H tại cơ quan điều tra và phù hợp với người liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp cả về mặt thời gian, địa điểm và diễn biến quá trình phạm tội thể hiện:

Ngày 25/11/2019, Nguyễn Cảnh H có hành vi gây mất trật tự ở khu dân cư. Khi tổ công tác của Công an phường B đến giải quyết, thì H chửi bới, chống đối, không chấp hành và cản trở, dùng chân đá vào người, tay đấm vào mặt làm anh Nguyễn Thái D cán bộ Công an phường B bị thương ở phần dưới mắt trái.

Như vậy, hành vi của của H đã chống đối lượng lượng Công an, hành vi đó đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” quy định theo Khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố.

Xét Nguyễn Cảnh H là người có thể chất phát triển bình thường, có đủ nhận thức về pháp luật, đáng lẻ ra H phải có hành động cư xử đúng mực, văn minh khi tổ công tác của Công an phường B đến thực hiện nhiệm vụ yêu cầu hợp tác làm việc, nhưng lợi dụng trong người có sẵn men rượu Nguyễn Cảnh H không chấp hành mà còn có hành vi chửi bới dùng tay, chân đánh vào trung úy Nguyễn Thái D, hành vi của H đã gây cản trở và xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cán bộ Công an khi đang làm nhiệm vụ, hành vi bị cáo H thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, coi thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, gây bất xúc trong quần chúng nhân dân. Mặc dù bị cáo H không tiền án nhưng nhân thân xấu. Vì vậy, cần có một mức án nghiêm khắc để tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Cảnh H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Cảnh H quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên không xem xét.

Về vật chứng: Không có nên không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Nguyễn Cảnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 330; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh H 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên không xem xét.

4. Về vật chứng: Không có.

5. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Xử buộc bị cáo Nguyễn Cảnh H phải chịu nộp 200.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/6/2020). Đối Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ