vanban.org

Bản án 26/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 21/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H (Tên gọi khác: Rin) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và bị cáo Huỳnh Văn T (Tên gọi khác: Huỳnh Minh T, Đái) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H (Tên gọi khác: Rin): 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 24/10/2019). Phạt bổ sung buộc bị cáo Lê Ngọc H phải nộp 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc H cùng đồng phạm - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H (Tên gọi khác: Rin) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và bị cáo Huỳnh Văn T (Tên gọi khác: Huỳnh Minh T, Đái) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢỚNG HÓA
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:26/2020/HS-ST
Ngày 21- 5- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thái Học.

Bà Hồ Thúy Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Phan Lê Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:

Lê Ngọc H (Tên gọi khác: Rin), sinh ngày 26/01/1989 tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: khóm X, thị trấn L, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Không nghề; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Lê Thị Anh Đ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2019, tạm giam từ ngày 02/11/2019 cho đến nay. Nhân thân: Ngày 28/6/2018 bị Công an thị trấn Lao Bảo xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Có mặt.

Hùynh Văn T (Tên gọi khác: Huỳnh Minh T, Đái ), sinh ngày 18/12/1982 tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: khóm X, thị trấn L, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S và bà Lê Thị S; có vợ là Nguyễn Thị Đ; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/10/2019 đến ngày 02/11/2019. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơ cư trú. Nhân thân: Ngày 03/3/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 19 /8/2016 bị Tòa án huyện Hướng Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Trần Hoài P, sinh năm 1987, trú tại: Khóm Vĩnh Đông, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1992, trú tại: Khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.

Anh Lê Văn S, sinh năm 1995, trú tại: Khóm An Hà, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 10 năm 2019, Huỳnh Văn T đến bên cửa sổ phòng ngủ của Lê Ngọc H ở cùng khóm xin H ma túy để sử dụng, H cho T 01 viên. Đứng nói chuyện một lúc, T đưa cho H 40.000 đồng để mua 01 viên ma túy nH H chưa đưa ma túy cho T mà đưa 100.000 đồng nhờ T đi nạp 140.000 đồng tiền card cho H chơi game. Khi nạp card xong, T quay lại gặp H, H đưa cho T 01 viên ma túy. T đang cầm ma túy ở tay thì bị Công an huyện Hướng Hóa phối hợp với Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị và lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát địa bàn phát hiện bắt quả tang. H lấy toàn bộ số ma túy còn lại của mình ném ra ngoài, do vướng vào cửa sổ nên 42 viên rơi xuống nền nhà trong phòng ngủ, 38 viên rơi ra nền đất bên ngoài cửa sổ. Thu giữ của Lê Ngọc H gồm 80 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bè mặt mỗi viên có in dập chữ WY (42 viên được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 và 38 viên được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2), 1.150.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7 Pro, màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, máy đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GT-E1200Y. Thu giữ của Huỳnh Minh T 02 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bè mặt mỗi viên có in dập chữ WY ( được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3).

Kết luận giám định số 835/KLGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

- Mẫu M1: 42 viên nén màu hồng có khối lượng 4,1417g là ma túy loại Methamphetamine.

- Mẩu M2: 38 viên nén màu hồng có khối lượng 3,7133g là ma túy loại Methamphetamine.

- Mẩu M3: 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2040g là ma túy loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT:323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra Lê Ngọc H khai nhận:

Ngày 22/10/2019, H đến khóm Ka Túp, thị trấn Lao Bảo gặp một thanh niên không quen biết mua 100 viên ma túy tổng hợp dạng nén với giá 1.500.000 đồng đư về nhà sử dụng và bán kiếm lời. Khi về đến nhà H dùng bao ni lông màu xanh gói số ma túy đó thành nhiều xâu(chuỗi) và cất giấu trong phòng ngủ của mình. Từ ngày 22/10/2019 đến ngày 24/10/2019 H sử dụng hết 14 viên; Ngày 23/10/2019, H cho Huỳnh Văn T 01 viên sử dụng. sáng 24/10/2019 H cho Lê Văn S ở khóm An Hà, thị trấn Lao Bảo 01 viên sử dụng và bán cho Trần Hoài P ở khóm Vĩnh Đông 02 viên với giá 60.000 đồng. (trong số tiền thu giữ 1.150.000 đồng nêu trên).

Từ khoảng tháng 6/2019 cho đến khi bị bắt, H đã nhiều lần mua ma túy dạng nén của một người không quen biết bán cho nhiều người, cụ thể:

Bán cho Trần Hoài P 02 lần, mỗi lần 02 viên với giá 60.000 đồng, lần đầu không nhớ ngày, lần sau vào sáng ngày 24/10/2019

Bán cho Nguyễn Văn N ở khóm Duy Tân 01 lần 02 viên với giá 80.000 đồng, không nhớ ngày.

Bán cho Huỳnh Văn T 02 lần mỗi lần 01 viên với giá 40.000 đồng , lần đầu không nhớ ngày và lần sau đang thực hiện hành vi mua bán thì bị bắt quả tang như trên.

Người làm chứng:

Trần Hoài P khai: Từng 02 lần mua ma túy của H, lần thứ nhất không nhớ thời gian mua 02 viên với giá 60.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 24/10/2019 mua 02 viên với giá 60.000 đồng.(Bút lục: 146-147)

Nguyễn Văn N khai: 05 lần mua ma túy của H, cách mỗi tháng mua một lần, mỗi lần 02 viên với giá mỗi viên là 50.000 đồng. Ngày 24/10/2019, khi đến nhà H mua ma túy thì gặp Huỳnh Minh T đang mua ma túy của H, lúc đó H và T đang nói chuyện thì bị lực lượng chức năng vào bắt giữ( Bút lục: 148 – 150).

Bản cáo trạng số: 21/CT-VKSHH ngày 12 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và Huỳnh Văn T về tội “Tàng trử trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H (tên gọi khác: Rin) phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy", căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251 , khoản 1 Điều 38, điểm r, s khoản 1, Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Ngọc H (Rin) từ 06 đến 07 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ. Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T (Tên gọi khác: Huỳnh Minh T, Đái) phạm tội “Tàng trử trái phép chất ma túy” ; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 , khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T (Huỳnh Minh T, Đái) từ 15 đến 18 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, khoản 2 , điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 túi niêm phong còn lại sau giám định, ký hiệu mã số PS3A0102815, đóng dấu Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị; Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 60.000 đồng của Lê Ngọc H. Trả lại cho Lê Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7 Pro, màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GT-E1200Y, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 1.090.000 đồng.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Ngọc H và Huỳnh Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Ngọc H trình bày lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình thực hiện như Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Huỳnh Văn T trình bày lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hướng Hóa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/10/2019 Lê Ngọc H cho Huỳnh Văn T 01 viên ma túy và ít phút sau bán cho Huỳnh Văn T 01 viên ma túy với giá 40.000 đồng. khi T đang cầm ma túy trên tay thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của Huỳnh Văn T 02 viên viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamin, có khối lượng 0,2040g và thu giữ của Lê Ngọc H 80 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 7,855g và thu giữ của Huỳnh Văn T 02 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamin, có khối lượng 0,2040g.

Ngoài ra trong quá trình điều tra Lê Ngọc H tự khai nhận trước khi bị phát hiện và bắt giữ, H đã nhiều lần mua ma túy sau đó bán cho các đối tượng sử dụng ma túy trên địa bàn thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa để kiếm lời, cụ thể: Bán cho Trần Hoài Phương 02 lần, mỗi lần từ 02 viên với giá 60.000 đồng ; bán cho Nguyễn Văn Ngọc ở khóm Duy Tân 02 viên với giá 80.000 đồng và Huỳnh Văn T 02 lần, mỗi lần 01 viên với giá 40.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng.

Từ nhận định nêu trên, thấy rằng hành vi của bị cáo Lê Ngọc H mua 82 viên (gồm 80 thu giữ của H và 02 viên Hứng bán cho T) trên bề mặt mỗi viên có dập chìm chữ WY là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khổi lượng 8,059 gam về cất giấu để nhằm mục đích bán lại cho T và những người khác và trước đó đã bán ma túy cho Trần Hoài Phương, Nguyễn Văn Ngọc để kiếm lời; vì vậy, hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy", với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “...Methamphetamin... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30gam...”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi cất giấu 02 viên trên bề mặt mỗi viên có dập chìm chữ WY là ma túy loại Methamphetamine có khổi lượng 0.2040 gam nhằm mục đích sử dụng của Huỳnh Văn T đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết “..Methamphetamin... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam...”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”, xét thấy bị cáo H đã mua bán nhiều lần cho nhiều người nên cần áp dụng hình phạt bổ sung buộc bị cáo H phải nộp số tiền 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước. Bị cáo T không có thu nhập đang ở cùng với gia đình điều kiện kinh tế khó khăn và bị bệnh nặng; vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

. Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm và hình phạt đối với các bị cáo; HĐXX thấy: Các bị cáo phạm tội độc lập có mục đích khác nhau nên không phải là đồng phạm. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự; Đối với bị cáo Lê Ngọc H quá trình điều tra đã tự thú về hành vi phạm tội của mình trước đó nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đều có nhân thân xấu bị cáo H đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Huỳnh Văn T đã bị kết án về tội Mua bán trái pháp chất ma túy và tội Trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm minh và căn cứ khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới; phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Hoài Phương, Nguyễn Văn Ngọc và Lê Văn Sang cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa đã có công văn yêu cầu Công an thị trấn Lao Bảo xử lý hành chính và quản lý, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án: Đối với 01 túi niêm phong còn lại sau giám định, ký hiệu mã số PS3A102815 đóng dấu Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7 Pro, màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GT-E1200Y, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy không phải là vật chứng của vụ án, bị cáo H không sử dụng vào việc thực hiện việc phạm tội; số tiền 1.150.000 đồng, trong đó có 60.000 đồng là tiền do H bán ma túy cho Trần Hoài Phương mà có, số tiền còn lại là 1.090.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo H. Vì vậy cần căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều không 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong ký hiệu mã số PS3A0102815 của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 60.000 đồng; Trả lại cho Lê Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7 Pro, màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GT-E1200Y, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 1.090.000 đồng.

Vật chứng liên quan đến vụ án hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận ngày 14/3/2020.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Lê Ngọc H và Huỳnh Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b,i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Ngọc H;

Căn cứ vào điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Văn T;

Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H (Tên gọi khác: Rin) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và bị cáo Huỳnh Văn T (Tên gọi khác: Huỳnh Minh T, Đái) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H (Tên gọi khác: Rin): 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 24/10/2019).

Phạt bổ sung buộc bị cáo Lê Ngọc H phải nộp 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T (Tên gọi khác: Huỳnh Minh T, Đái): 12 (Mười hai) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/9102019 đến ngày 02/11/2019; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng : Tịch thu, tiêu hủy 01 phong ký hiệu mã số PS3A0102815 của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị; Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 60.000 đồng.

Trả lại cho Lê Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7 Pro, màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GT-E1200Y, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 1.090.000 đồng.

Vật chứng liên quan đến vụ án hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận ngày 14/3/2020.

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Ngọc H và Huỳnh Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ