- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn E phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Quyết định số 03/2020/QĐ-UBND Quy định số lượng cán bộ, công…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 26/2020/HS-ST Ngày 01/7/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vui.
Ông Nguyễn Văn Mạng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST-HS ngày 17/6/2020 đối với các bị cáo:
NGUYỄN VĂN E (Tên gọi khác là D)
- Sinh năm 19xx tại tỉnh Tiền Giang.
- Nơi cư trú: Ấp X, xã T, huyện Đ, tỉnh G; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Y và bà Lê Thị K; vợ Lê Thị H (chưa đăng ký kết hôn); Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 03/2020/QĐ-UBND ngày 02/01/2020 thời gian là 03 tháng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/3/2020, bị tạm giam từ ngày 11/3/2020; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn S, sinh năm 19xx (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Kh, xã P, huyện S, tỉnh G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 05/3/2020, tại nhà nghỉ Q thuộc ấp A, xã L, huyện Đ - Công an tỉnh G, Bộ đội Biên phòng tỉnh G, Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Đ, Công an xã L và tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Nguyễn Văn E đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói nilon màu trắng được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá tổng hợp.
- Tiền Việt Nam là 1.811.000 đồng;
- 01 xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 59DB-011.28; hiệu AIRBLADE màu đen, số khung RLHJF1808AY253454, số máy JF27E-0294595;
- 01 Điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong;
- 01 Bóp da màu nâu, hiệu VERSACE;
- 01 Cái hột quẹt gas màu xanh;
- 01 Gói thuốc Jet;
Kết luận giám định số 47/KLGĐ-PC09 ngày 07/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang xác định: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn E, Lê Hùng Tiến, Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Thanh Phương, Mai Hùng Nhân, chữ ký in tên Lê Quốc Bằng và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ PHƯỚC TRUNG, CÔNG AN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4889 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS.GCĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh như Bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn E từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Về vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 15 Điều 25 Thông tư 15/2014/TT-BCA ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe, đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã được niêm phong vụ số: 47 ngày 07 tháng 3 năm 2020 có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Huỳnh Tấn Liễu (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Thanh Niềm (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH G. Bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,4550 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định; 01 cái hột quẹt gas màu xanh; 01 gói thuốc Jet.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hai bánh hiệu AIRBLADE màu đen, số khung RLHJF1808AY253454, số máy JF27E-0294595; 01 Điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
+ Trả lại bị cáo E số tiền 1.811.000 đồng, 01 Bóp da màu nâu hiệu VERSACE.
+ Trả lại ông Nguyễn S 01 biển số xe số 59DB - 011.28.
Bị cáo E nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Gò Công Đông, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định, Biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, khoảng 19 giờ 40, ngày 05/3/2020, tại nhà nghỉ Q thuộc ấp A, xã L, huyện Đ, bị cáo E đã tàng trữ trái phép chất ma túy, nhằm mục đích để sử dụng với khối lượng là 0,4889 gam (Không phẩy bốn tám tám chín gam), loại Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo E là nghiêm trọng, nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện và gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, trở thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo qui định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng:
- 01 phong bì đã được niêm phong vụ số: 47 ngày 07 tháng 3 năm 2020 có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Huỳnh Tấn Liễu (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Thanh Niềm (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH G. Bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,4550 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy. 01 cái hột quẹt gas màu xanh; 01 gói thuốc Jet là các dụng cụ để bị cáo sử dụng ma túy, hiện những vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 xe mô tô hai bánh hiệu AIRBLADE màu đen, số khung RLHJF1808AY253454, số máy JF27E-0294595 (không xác định được nguồn gốc và chủ sở hữu xe) và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, đều là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Số tiền 1.811.000 đồng và 01 bóp da màu nâu hiệu VERSACE là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- 01 Biển số xe số 59DB - 011.28 là tài sản của ông Nguyễn S nên cần trả cho ông Sẩm.
Đối với người thanh niên (không rõ lai lịch) có hành vi kêu bị cáo cất giữ ma túy là có dấu hiệu đồng phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chưa xác định được đối tượng nên chưa làm việc được, khi xác định được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do nhận định bị cáo có tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
ì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn E phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
phạt: Bị cáo Nguyễn Văn E 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 05/3/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 15 Điều 25 Thông tư 15/2014/TT-BCA ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã được niêm phong vụ số: 47 ngày 07 tháng 3 năm 2020 có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Huỳnh Tấn Liễu (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Thanh Niềm (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH G. Bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,4550 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định; 01 cái hột quẹt gas màu xanh; 01 gói thuốc Jet.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hai bánh hiệu AIRBLADE màu đen, số khung RLHJF1808AY253454, số máy JF27E-0294595; 01 Điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, số IMEI:866376042208154.
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Văn E số tiền 1.811.000 đồng (Một triệu tám trăm mười một nghìn đồng) và 01 bóp da màu nâu, hiệu VERSACE.
+ Trả lại ông Nguyễn S 01 biển số xe số 59DB - 011.28.
Thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo E phải chịu 200.000 đồng án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và ông S được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Gò Công Đông; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Cơ quan CSĐT CA huyện Gò Công Đông; - Cơ quan THAHS huyện Gò Công Đông; - Chi cục THADS huyện Gò Công Đông; - Bị cáo, đương sự; - Lưu: hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy An |