vanban.org

Bản án 26/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 21/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Cà Văn S phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Cà Văn S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (11/6/2019). * Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn S - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Cà Văn S phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 26/2020/HS-ST
Ngày: 21/02/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Ơn

Bà Lƣờng Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hƣơng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn S; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1987 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Hả 1, xã P, huyện Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cà Văn P (Đã chết) và Con bà: Lò Thị D - Sinh năm: 1952; Vợ: Lường Thị Th - sinh năm: 1989 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/6/2019, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lý Văn T - Sinh năm: 1993; Địa chỉ: Đội 1, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tƣ và xây dựng V; Địa chỉ trụ sở: Tổ dân phố 3, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên.

+ Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Hồng Q - Giám đốc; Sinh năm: 1971; Địa chỉ: Số nhà 45, tổ dân phố 02, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

- Công ty trách nhiệm hữu hạn N, tỉnh Điện Biên; Địa chỉ trụ sở: Tổ dân phố 6, phường Th, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

+ Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Sinh C - Giám đốc; Sinh năm: 1993; Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường Th, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

- Ông Phan Văn T - Sinh năm: 1971; Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường Th, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Là người quản lý đội xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn N, tỉnh Điện Biên - Vắng mặt).

* Người làm chứng: Ông Lò Văn H - Sinh năm: 1971; Địa chỉ: Đội 15, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20 tháng 12 năm 2018 Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) đầu tư và xây dựng V hợp đồng thuê xe ô tô biển kiểm soát 27C - 033.98 của Công ty trách nhiệm hữu hạn N, tỉnh Điện Biên. Sau khi thuê xe ngày 08/5/2019 Công ty TNHH đầu tư và xây dựng V đã hợp đồng với Cà Văn S lái xe trong thời hạn 01 năm. Ngày 11/6/2019 Cà Văn S được giao nhiệm vụ chở 16 m3 đá từ mỏ đá T đến Đ để phục vụ công trình làm đường. Hồi 06 giờ 55 phút cùng ngày sau khi nhận đá Cà Văn S khiển xe ô tô khi trong hơi thở có nồng độ cồn 0,109mg/L khí thở, đến đoạn đường km 208 + 446,3 quốc lộ 12 kéo dài thuộc đội 4 (bản Y), xã S, huyện Đ, là đoạn đường thẳng, mặt đường rộng 5m được trải áp phan, ở giữa có vạch kẻ S đứt quãng phân chia hai chiều xe chạy thì S điều khiển xe với tốc độ 41 km/giờ, vượt một máy phay do anh Lò Văn H, sinh năm 1971, trú tại đội 15, xã N, huyện Đ đang điều khiển cùng chiều. Do không chú ý quan sát nên không phát hiện có xe đi ngược chiều, ngay khi vượt, xe ô tô do S điều khiển đã va chạm đâm với xe mô tô Biển kiểm soát 27B1- 364.76 do Đặng Thị D, sinh năm 1994, trú tại đội 1, xã N, huyện Đ điều khiển theo hướng ngược lại, phía sau chở con gái là Lý Nhã Hòa, sinh năm 2017. Hậu quả: Cháu Lý Nhã H tử vong tại hiện trường, Đặng Thị D bị thương nặng được người dân đưa đi viện cấp cứu và đã tử vong tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên vào hồi 10 giờ 25 phút cùng ngày. Xe mô tô do chị Đặng Thị D điều khiển bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường đã xác định: Lấy Km 208 + 400 nằm phía bên phải đường theo hướng P - N làm mốc. Lấy mép đường bên phải hướng P - N làm chuẩn. Tại hiện trường ghi nhận 5 vị trí. Số 01 là vết cầy, vết hằn lốp, vết trượt màu đen diện 72,5 x 1,2m x cuối vết 01 = 0,9m có hình sin nằm đa số bên phần đường phía bên trái theo hướng P - N. Điểm đầu vết 01 cách mép đường làm chuẩn là 3,05m, một điểm cạnh vết 01 cách mép đường làm chuẩn là 3,55m.Vị trí số 2 là nạn nhân Lý Nhã H; vị trí số 03 là vết máu; vị trí số 4 là xe ô tô; vị trí số 5 là xe mô tô. Từ vị trí 01 đến vị trí 04 là 72,5m.

Sau khi xảy ra tai nạn Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 87/TT ngày 14/6/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên kết luận: “Nguyên nhân chết của Đặng Thị D do đa chấn thương, mất máu cấp”.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 86/TT ngày 14/6/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên kết luận: “Nguyên nhân chết của Lý Nhã H do đa chấn thương”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 64/KL-ĐGTS ngày 08/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Điện Biên đã kết luận: “01 chiếc xe mô tô hiệu KYMCO màu đỏ đen, BKS 27B1-364.76 có giá trị 31.800.000 đồng”.

Tại phiếu kiểm tra nồng độ cồn đối với Cà Văn S do phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Điện Biên đo vào hồi 08 giờ 03 phút ngày 11/6/2019: Trong hơi thở của S có nồng độ cồn là 0,109mg/L.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận giám định pháp y về tử thi của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên; Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Điện Biên và Kết quả đo nồng độ cồn trên của Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Điện Biên.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 04/10/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã trả lại cho ông Lê Hồng Q 01 xe ô tô tải màu xanh nhãn hiệu CNHTC mang biển kiểm soát 27C - 033.98 (kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định số 7296377 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô mang biển kiểm soát 27C - 033.98) và giao xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu KYMCO mang biển kiểm soát 27B1- 364.76 của bị hại Đặng Thị D theo biên bản thỏa thuận dân sự ngày 10/9/2019 giữa ông Lê Hồng Q và ông Lý Văn T.

Bản cáo trạng số: 23/CT-VKSĐB ngày 20/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn S về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn S với mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết đối với trách nhiệm bồi thường dân sự.

* Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo Cà Văn S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Cà Văn S khai nhận vào hồi 06 giờ 55 phút ngày 11/6/2019, tại Km 208 + 446,3 Quốc lộ 12 kéo dài thuộc địa phận đội 4, bản Yên, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên S điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 27C - 033.98 đi theo hướng P đi N đã vượt máy phay khi không đủ điều kiện để vượt và điều khiển xe ô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn nên đã gây tai nạn làm chị Đặng Thị D và cháu Lý Nhã H chết; gây thiệt hại về tài sản với tổng trị giá là 31.800.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, biên bản thực nghiệm điều tra, sơ đồ hiện trường cùng các bản ảnh kèm theo, bản kết luận giám định pháp y về tử thi kết của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên, bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Điện Biên và kết quả đo nồng độ cồn trên của Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Điện Biên và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: …

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

đ) Làm chết 02 người;”.

Luật giao thông đường bộ quy định:

Điều 14. Vượt xe: …

“2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt và đã tránh về bên phải”.

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm: …

“8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.

Cà Văn S là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với l i vô ý.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn S về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi trên của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội bởi đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm những quy định nhằm đảm bảo an toàn giao thông vận tải, đảm bảo cho hoạt động vận tải đường bộ được thông suốt, được tiến hành bình thường và bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của các tổ chức, tài sản của công dân. Là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc không chấp hành các quy định an toàn giao thông đường bộ dẫn đến nguy hiểm có thể chết người, nhưng khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông S đã vượt xe khi không đảm bảo các điều kiện để vượt vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và điều khiển xe ô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,109mg/L khí thở - Vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả là làm chết hai người và xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại về tài sản giá trị 31.800.000 đồng. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, không tuân thủ nguyên tắc khi tham gia giao thông đường bộ, điều khiển xe ô tô vượt xe khi không đảm bảo các điều kiện để vượt và điều khiển xe ô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn, hậu quả làm 02 người chết, xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại về tài sản giá trị 31.800.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình cùng với Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và xây dựng V bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại; mặt khác bố đẻ bị cáo là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo đã ra đầu thú, người đại diện hợp pháp của bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp với vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng chỉ có thu nhập chính từ nghề lái xe mà không có nghề nào khác, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình cùng với Công ty TNHH đầu tư và xây dựng V (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Hồng Q) bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại (ông Lý Văn T) số tiền là 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng), bao gồm các khoản: Tiền viện phí, chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần, thiệt hại về tài sản cùng các khoản khác (Theo biên bản thỏa thuận dân sự ngày 10/9/2019 giữa ông Lý Văn T và ông Lê Hồng Q). Ông T đã nhận đủ số tiền 270.000.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm; ông Q cũng không yêu cầu giải quyết đối với số tiền trên, sau khi bị cáo S chấp hành xong án phạt tù ông Q và bị cáo sẽ tự giải quyết với nhau sau. Vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên của ông Lý Văn T và ông Lê Hồng Q.

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với chiếc xe ô tô tải màu xanh nhãn hiệu CNHTC biển kiểm soát 27C-033.98 mang tên Công ty trách nhiệm hữu hạn N, tỉnh Điện Biên kèm theo 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 27C - 033.98 và chiếc xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu KYMCO biển kiểm soát 27B1 - 364.76 của bị hại Đặng Thị D: Tại biên bản thỏa thuận dân sự ngày 10/9/2019 giữa ông Lê Hồng Q và ông Lý Văn T, ông T đề nghị Cơ quan điều tra trả lại cho ông Q những tài sản và giấy tờ trên. Vì vậy, ngày 04/10/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã trả lại xe ô tô biển kiểm soát 27C - 033.98, giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự và giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 27C - 033.98 và giao chiếc xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu KYMCO mang biển kiểm soát 27B1 - 364.76 của bị hại Đặng Thị D cho ông Lê Hồng Q theo Quyết định xử lý vật chứng số: 63/QĐXLVC ngày 04/10/2019. Xét thấy, việc trả lại tài sản của cơ quan điều tra là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng trên.

Chủ sở hữu xe ô tô BKS 27C - 033.98 là Công ty trách nhiệm hữu hạn N, tỉnh Điện Biên đã tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự với Công ty Bảo Việt Điện Biên. Quá trình điều tra không đề nghị giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và xây dựng V đã có hành vi tự ý cải tạo thùng xe ô tô, lắp bánh lốp không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống phanh không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, chở hàng vượt trọng tải cho phép là: 15.930 kg ~ 158% và giao phương tiện cho người làm công là lái xe Cà Văn S điều khiển thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 24 Nghị định số: 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính Phủ. Các hành vi trên đã vi phạm vào điểm a khoản 9 và điểm a khoản 12 Điều 30 của Nghị định số: 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính Phủ. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và xây dựng V. Ngày 21/01/2020 Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 84/QĐ-XPVPHC đối với Công ty TNHH đầu tư và xây dựng V với hình thức xử phạt chính là phạt tiền 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) và buộc Công ty phải thực hiện điều chỉnh thùng xe theo thiết kế cho phép tham gia giao thông được ghi trong giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; đăng kiểm lại theo quy định hiện hành trước khi đưa phương tiện tham gia giao thông, thời hạn thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả là 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này. Mọi chi phí tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do Công ty chi trả. Xét thấy, việc xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và xây dựng Vĩnh P là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Cà Văn S phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Cà Văn S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (11/6/2019).

* Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số: 63/QĐXLVC ngày 04/10/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

4. Về trách nhiệm bồi thƣờng dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Lý Văn T và ông Lê Hồng Q đối với số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng) theo biên Bản thỏa thuận dân sự ngày 10/9/2019 (BL số: 191).

5. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn S.

6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Cà Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/02/2020). Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Cỡ chữ