vanban.org

Bản án 26/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều

51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Nguyễn Tấn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIỜ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2020/HS-ST
Ngày: 24-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Nga.

2. Bà Võ Thị Bạch Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mới – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần

Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm

thụ lý số 30/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử 35/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2020đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn T, sinh ngày 23/10/1991, tại thành phố Hồ Chí Minh; Hộ

khẩu thường trú: 242 ấp A, xã B, huyện C, TP D; Chỗ ở trước khi bị bắt: Như

trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới

tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Tấn V, sinh năm:

1943 và bà Hồ Thị Ngọc A, sinh năm: 1952; Vợ Dương Ngọc P, sinh năm 1994

(đã ly hôn); Con Nguyễn Ngọc Kim N, sinh năm 2016; Anh, chị, em ruột có 08

người (lớn sinh năm 1976, nhỏ sinh năm 1993); Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo

bị bắt, tạm giam từ ngày 28/5/2020 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Ngọc Thoại,

sinh năm: 1987 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, TP D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/5/2020 Nguyễn Tấn T có nhu cầu sử dụng ma túy nên từ nhà

mình tại số 242 ấp A, xã B, huyện C, TP D đi xe ôm đến khu vực cầu Ông Lãnh thuộc Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người phụ nữ khoảng 30 tuổi (không rõ tên và địa chỉ) mua một gói ma túy với số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), sau đó T về nhà phân ma túy thành 13 gói nhỏ để dành sử dụng.

Đến khoảng 21 giờ ngày 27/5/2020 có Nguyễn Ngọc Thúy H (sinh năm

2005) gọi điện thoại rủ T đến nhà nghỉ U tại số 394 ấp A, xã B, huyện C để sử dụng ma túy thì T đồng ý. H đến nhà nghỉ trên lấy phòng trước (phòng số 7), lát sau T vào và lấy dụng cụ ra để sử dụng ma túy, sau khi sử dụng ma túy xong T ngủ. Còn H do trước đó đã có sử dụng ma túy, cảm thấy mệt nên không sử dụng ma ngồi bấm điện thoại. Đến khoảng 7 giờ 30 phút ngày 28/5/2020 H ra về, T ở lại đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã Bình Khánh kiểm tra phát hiện bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ một số vật chứng liên quan.

T khai nhận đã mua ma túy của người phụ nữ trên 02 lần, mỗi lần với số

tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), loại ma túy đá. Lần gần nhất vào ngày 25/5/2020. T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 7, số điện thoại XXXXXXXXXX để liên lạc mua ma túy, người phụ nữ trên sử dụng số điện thoại XXXXXXXXXX.

Tại bản Kết luận giám định số XXX/KLGĐ-H ngày 05/6/2020 của

Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận tinh thể không màu chứa trong 13 gói nylon thu được trên người Nguyễn Tấn T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7457gam, loại Methamphetamine (MA).

Tại cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cần Giờ, Nguyễn Tấn T đã

thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Tấn T có thái độ thành khẩn

khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Vật chứng vụ án thu giữ:

- 01 gói niêm phong chứa 13 (mười ba) gói nylon lớn nhỏ, chứa tinh thể

không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,7457gam, loại Methamphetamine (MA), sau khi phục vụ giám định còn lại khối lượng 1,5312gam; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng trắng, hàn kín một đầu, cắt vát một đầu, bên trong không chứa gì, bị can T dùng chứa ma túy để sử dụng; 01 (một) quẹt gas đã qua sử dụng, bị can T dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) hộp bằng kim loại màu xanh trắng, hiệu Real Man, bị can T dùng để cất giấu ma túy; 01 (một) ly thủy tinh tự chế, trên đầu ly có gắn nắp chai bằng nhựa màu trắng và đỏ, trên nắp chai có khoét 02 lỗ gắn 01 ống thủy tinh (nỏ) và 01 ống nhựa màu trắng dùng để sử dụng ma túy; 01 (một)

điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 7, màu hồng – trắng, đã qua sử dụng (đã

trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Ngọc Thoại).

Bản cáo trạng số: XX/CT-VKS-H.CG ngày 07 tháng 9 năm 2020 của

Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ

nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ

luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Đối với vật chứng vụ án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định

pháp luật.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho T sử dụng số điện thoại

XXXXXXXXXX, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giờ đã có công

văn đề nghị Công ty viễn thông Quân đội Viettel cung cấp thông tin nhưng đến

nay chưa được trả lời nên chưa có cơ sở xử lý.

Đối với Nguyễn Ngọc Thúy H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giờ đã chuyển hồ sơ cho

Công an xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ xử lý hành chính theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như

nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát

viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và

trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người

có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Cần Giờ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên

trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ

tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa

bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại

về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó các

hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố

tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tấn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản niêm phong vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ, ngày 28/5/2020 tại Nhà nghỉ U, số 242 ấp A, xã B, huyện C, TP D, Nguyễn Tấn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 13 gói nylon bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 1,7457gam (sau khi phục vụ giám định còn lại khối lượng 1,5312gam) nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nguyễn Tấn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Tấn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc

quyền quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm, trái pháp luật của hành vi mình thực hiện, nhưng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả và pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng

như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật

hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bản thân bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên đối

tượng Nguyễn Tấn T và ghi tên Nguyễn Hoàng D, Võ Anh T, Trung tá Nguyễn Văn NE (Trưởng công an xã) hình dấu Công an xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ bên trong có 13 (mười ba) gói nylon nên trong chứa tinh thể không màu, qua giám định tinh thể không màu là ma túy đá ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,7457g, loại Methamphetamine (sau khi phục vụ giám định còn lại 1,5312g) là vật cấm lưu hành xét tịch thu tiêu hủy;

- 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng trắng, hàn kín một đầu, cắt vát một

đầu, bên trong không chứa gì, bị can T dùng chứa ma túy để sử dụng; 01 (một)

quẹt gas đã qua sử dụng, bị can T dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) hộp bằng kim

loại màu xanh trắng, hiệu Real Man, bị can T dùng để cất giấu ma túy; 01 (một) ly

thủy tinh tự chế, trên đầu ly có gắn nắp chai bằng nhựa màu trắng và đỏ, trên nắp

chai có khoét 02 lỗ gắn 01 ống thủy tinh (nỏ) và 01 ống nhựa màu trắng dùng để

sử dụng ma túy là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 7, màu hồng –

trắng T sử dụng để liên lạc mua ma túy là mượn của chị ruột Nguyễn Ngọc T, chị

T không biết T dùng điện thoại này liên lạc mua ma túy nên trả lại cho chủ sở hữu

là đúng qui định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho T sử dụng số điện thoại

XXXXXXXXXX, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giờ đã có công

văn đề nghị Công ty viễn thông Quân đội Viettel cung cấp thông tin nhưng đến

nay chưa được trả lời nên chưa có cơ sở xử lý.

Đối với Nguyễn Ngọc Thúy H có hành vi sử dụng trái phép chất ma

túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giờ đã chuyển hồ sơ cho

Công an xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ xử lý hành chính theo quy định.

Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên bị cáo được miễn án

phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều

51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Nguyễn Tấn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ

trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2020. Tiếp tục tạm giam bị

cáo để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ

ký ghi tên đối tượng Nguyễn Tấn T và ghi tên Nguyễn Hoàng D, Võ Anh T,

Trung tá Nguyễn Văn NE (Trưởng công an xã) hình dấu Công an xã Bình Khánh,

huyện Cần Giờ bên trong có 13 (mười ba) gói nylon nên trong chứa tinh thể không

màu, qua giám định tinh thể không màu là ma túy đá ở thể rắn, có tổng khối

lượng 1,7457g, loại Methamphetamine (sau khi phục vụ giám định còn lại

1,5312g); 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng trắng, hàn kín một đầu, cắt vát một

đầu, bên trong không chứa gì, bị can T dùng chứa ma túy để sử dụng; 01 (một)

quẹt gas đã qua sử dụng, bị can T dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) hộp bằng kim loại màu xanh trắng, hiệu Real Man, bị can T dùng để cất giấu ma túy; 01 (một) ly thủy tinh tự chế, trên đầu ly có gắn nắp chai bằng nhựa màu trắng và đỏ, trên nắp chai có khoét 02 lỗ gắn 01 ống thủy tinh (nỏ) và 01 ống nhựa màu trắng dùng để sử dụng ma túy.

Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Tấn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đưuọc quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được

thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nôi nhaän:

Cỡ chữ