- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2020/HS-ST Ngày: 03-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thế Chính.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Hạnh.
Ông Võ Phi Anh Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Hữu Ngọc - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 5 và ngày 03 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thành T, sinh năm 1983 tại Bình Định. Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P 2013, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 15/5/2000 tại Vĩnh L1. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn E và bà Nguyễn Thị Ly P1, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. T4 Quyền D, sinh năm 1990 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp 3, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thông Ngọc L và bà Trần Thị M1, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
4. Lê Vũ K (Tên gọi khác: Trí), sinh năm 1994 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phát M và bà Huỳnh Thị Hồng C, vợ tên Trần Thị Diễm T1, có 01 người con sinh năm 2019, tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC ngày 06/01/2017 của Công an thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2015/HSST ngày 05/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
5. Trần Văn H, sinh năm 1987 tại Nam Định. Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Phạm Thị H, vợ tên Lâm Như Ý, có 02 người con sinh năm 2015 và 2017, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
6. Bùi Minh T2, sinh năm 1991 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp 1, xã A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị C, vợ tên Trần Thị Mộng G, có 01 người con sinh năm 2015, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
7. Nguyễn Thành T3, sinh năm 1977 tại Bình Định. Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị L, vợ tên Nguyễn Thị G, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2013, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
8. Hồ Văn P3, sinh năm 1973 tại Nghệ An. Nơi cư trú: Thôn 3, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T và bà Phạm Thị T, vợ tên Hoàng Thị M, có 02 người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1998, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
9. Nguyễn Thành N, sinh năm 1999 tại Bình Phước. Nơi cư trú: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T3 và bà Nguyễn Thị G, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
10. Phạm Duy L1, sinh năm 1966 tại Bình Định. Nơi cư trú: Tổ 24B, Khu vực 5, phường P, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm D (Đã chết) và bà Đặng Thị Đ, vợ tên Nguyễn Thị T, có 01 người con sinh năm 2016, tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Đinh Trọng T4, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình D1; có mặt.
2. Ông Trần Quốc D1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
3. Bà Phan Thị L2, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
4. Ông Chap Van N1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông Quyền D, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi M T2, Chap Van N1 và Phạm Duy L1 làm cùng công ty với nhau. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/10/2019, Thông Quyền D, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Chap Van N1 đến chỗ ở của L1 thuộc ấp Bưng Lương, xã Tân Mỹ, Hện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để nhận tiền lương. Sau khi phát lương xong, L1 rủ tất cả ở lại ăn và uống rượu. Lúc này, Nguyễn Thành T đem ra một bộ bài T3 52 lá rủ cả nhóm cùng đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức đánh bài cào, mỗi người làm cái 03 ván xoay vòng nên tất cả đồng ý và tham gia chơi. Phạm Duy L1 ngồi gần đó uống rượu mà không tham gia chơi. Khi cả nhóm đang đánh bạc thắng thua bằng tiền thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ:
- Tại chiếu bạc số tiền 6.710.000 đồng.
- 01 bộ bài T3 đã qua sử dụng.
- Số tiền 1.720.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc của Trần Văn H.
- Số tiền 21.227.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu trắng của T4 Quyền D.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của Nguyễn Thành T3.
- Số tiền 5.415.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen bạc của Nguyễn Hoàng M.
- Số tiền 1.000.000 đồng của Lê Vũ K.
- Số tiền 300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia có ốp da màu đỏ của Hồ Văn P3.
- Số tiền 4.841.000 đồng của Chap Van N1.
- Xe môtô biển số 60B6-05598, số khung: RIHHC 1267BY156439, số máy: HC1E2956419.
- Xe môtô biển số 64E1-43215, số máy: CGAID168912, số khung: 1RR1438.
- Xe môtô biển số 66H1-06657, số máy: 1E6261317, số khung: BY461248.
- Xe môtô biển số 66H1-23045, số máy: E3X9E 045550, số khung: RLCUE2310HY016844.
Quá trình điều tra, Thông Quyền D, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Chap Van N1 khai nhận như sau:
- Nguyễn Thành N mang theo số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 200.000 đồng.
- Nguyễn Thành T mang theo số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua số tiền 200.000 đồng.
- Nguyễn Thành T3 mang theo số tiền 350.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua số tiền 350.000 đồng.
- Nguyễn Hoàng M mang theo và sử dụng hết số tiền 7.415.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 2.000.000 đồng. Khi Công an bắt, tạm giữ của M số tiền 5.415.000 đồng.
- Thông Quyền D mang theo số tiền 20.227.000 đồng, sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc và thắng số tiền 1.000.000 đồng. Khi bị Công an bắt, tạm giữ của bị cáo D số tiền 21.227.000 đồng.
- Lê Vũ K mang theo số tiền 1.400.000 đồng để đánh bạc và thua 400.000 đồng. Khi Công an bắt, tạm giữ của bị cáo K số tiền 1.000.000 đồng.
- Hồ Văn P3 mang theo số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, kết quả không thắng không thua. Khi Công an bắt, tạm giữ của P3 số tiền 300.000 đồng.
- Trần Văn H mang theo số tiền 1.120.000 đồng để đánh bạc, kết quả thắng được 600.000 đồng. Khi Công an bắt, tạm giữ của H số tiền 1.720.000 đồng.
- Bùi Minh T2 mang theo số tiền 400.000 đồng để đánh bạc, kết quả không thắng không thua. Khi Công an bắt quả tang, T2 ném số tiền 400.000 đồng vào vị trí đánh bạc.
- Chap Van N1 mang theo số tiền 5.441.000 đồng và lấy ra số tiền 600.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại N1 dùng để trả nợ. Sau khi thua hết số tiền 600.000 đồng, Chap Van N1 không chơi nữa mà đứng xem đến khi Công an vào bắt quả tang tạm giữ số tiền 4.841.000 trong người.
Đối với bị cáo Phạm Duy L1 không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng để cho những người trên sử dụng chỗ ở của mình để đánh bạc thắng thua bằng tiền mà không can ngăn và không tố giác.
Tổng số tiền Thông Quyền D, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Chap Van N1 sử dụng để đánh bạc là 20.145.000 đồng.
Ngày 24/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Duy L1, Thông Quyền D, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Chap Van N1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ông Đinh Trọng T4 không biết Trần Văn H và Hồ Văn P3 mượn tiền để đánh bạc nên không xem xét xử lý.
Chap Van N1 có quốc tịch Campuchia, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã đề nghị Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương yêu cầu Tương trợ Tư pháp đến nay chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Chap Van N1, quyết định tách vụ án hình sự để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-BTU ngày 23 tháng 3 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thành T, Thông Quyền D, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Phạm Duy L1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T số tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Hoàng M và Thông Quyền D, mỗi bị cáo số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Xử phạt các bị cáo Trần Văn H, Bùi Minh T2, Nguyễn Thành T3, Hồ Văn P3, Nguyễn Thành N, Phạm Duy L1; mỗi bị cáo số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Vũ K từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
01 bộ bài tây phục vụ vào mục đích đánh bạc đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 6.710.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Số tiền 21.227.000 đồng của Thông Quyền D, trong đó số tiền sử dụng đánh bạc và thắng bạc là 5.000.000 đồng đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước; số tiền 16.227.000 đồng không sử dụng đánh bạc, đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Số tiền 5.415.000 đồng của Nguyễn Hoàng M, số tiền 1.720.000 đồng của Trần Văn H, số tiền 1.000.000 đồng của Lê Vũ K, số tiền 300.000 đồng của Hồ Văn P3 sử dụng để đánh bạc và thắng bạc, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Số tiền 4.841.000 đồng thu giữ của Chap Van N1 không sử dụng đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối Chap Van N1, quyết định tách vụ án hình sự để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, đề nghị tạm giữ số tiền để xử lý cùng với việc xử lý hành vi đánh bạc của Chap Van N1.
01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc của Trần Văn H; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu trắng của Thông Quyền D; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của Nguyễn Thành T3; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen bạc của Nguyễn Hoàng M; 01 điện thoại di động hiệu Nokia có ốp da màu đỏ của Hồ Văn P3 không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho Trần Văn H, Thông Quyền D, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M và Hồ Văn P3.
01 xe môtô biển số 60B6-05598 của Thông Quyền D, 01 xe môtô biển số 64E1-43215 của Nguyễn Hoàng M và xe môtô biển số 66H1-23045 của Bùi Minh T2 không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho Thông Quyền D, Nguyễn Hoàng M và Bùi Minh T2.
01 xe môtô biển số 66H1-06657 của ông Trần Quốc D1. Ngày 15/10/2019, Lê Vũ K mượn để đi làm, K sử dụng xe đi đến nhà Phạm Duy L1 để nhận tiền lương rồi tham gia đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho ông D1.
Các bị cáo thống nhất nội dung bản cáo trạng truy tố, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hện Bắc Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào biên bản phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa xác định:
Ngày 15/10/2019, tại nhà của bị cáo Phạm Duy L1 thuê thuộc ấp B, xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Thành T, Thông Quyền D, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Chap Van N1 đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức đánh bài cào, cụ thể:
Bị cáo Nguyễn Thành N mang theo số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua số tiền 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Thành T mang theo số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua số tiền 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Thành T3 mang theo số tiền 350.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua số tiền 350.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Hoàng M mang theo số tiền 7.415.000 đồng để đánh bạc và thua 2.000.000 đồng. Khi Công an bắt, tạm giữ của M số tiền 5.415.000 đồng.
Bị cáo Thông Quyền D mang theo số tiền 20.227.000 đồng, sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc và thắng số tiền 1.000.000 đồng. Khi Công an bắt, tạm giữ của D số tiền 21.227.000 đồng.
Bị cáo Lê Vũ K mang theo số tiền 1.400.000 đồng để đánh bạc và thua số tiền 400.000 đồng. Khi Công an bắt, tạm giữ của K số tiền 1.000.000 đồng.
Bị cáo Hồ Văn P3 mang theo số tiền 300.000 đồng để đánh bạc nhưng không thắng không thua. Khi Công an bắt, tạm giữ của P3 số tiền 300.000 đồng.
Bị cáo Trần Văn H mang theo số tiền 1.120.000 đồng để đánh bạc và thắng được số tiền 600.000 đồng. Khi Công an bắt, tạm giữ của bị cáo H số tiền 1.720.000 đồng.
Bị cáo Bùi Minh T2 mang theo số tiền 400.000 đồng để đánh bạc, kết quả không thắng không thua. Khi Công an bắt quả tang thì T2 ném số tiền 400.000 đồng vào vị trí đánh bạc.
Chap Van N1 mang theo số tiền 5.441.000 đồng, sử dụng số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. Sau khi thua hết số tiền 600.000 đồng, Chap Van N1 không chơi nữa mà đứng xem đến khi Công an vào bắt quả tang tạm giữ số tiền 4.841.000 trong người.
Đối với số tiền thu giữa tại chiếu bạc là 6.710.000 đồng, các bị cáo không thừa nhận nhưng có đủ căn cứ xác định là số tiền sử dụng để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 20.145.000 đồng (Hai mươi triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Bị cáo Phạm Duy L1 không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã để cho những người khác sử dụng địa điểm (chỗ ở) do mình quản lý để đánh bạc cũng phạm tội đánh bạc với vai trò đồng phạm giúp sức.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Bản cáo trạng số 20/CT-VKS-BTU ngày 23 tháng 3 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Thành T, Thông Quyền D, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi M T2 và Phạm Duy L1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an N, trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử các bị cáo mức hình phạt nghiêm, Tơng xứng với hành vi phạm tội nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:
Về vai trò và nhân thân của các bị cáo: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người rủ các bị cáo khác (Trừ bị cáo L1) tham gia, các bị cáo tham gia đánh bạc là những người thực hành. Bị cáo L1 tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức; bị cáo K có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc và có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các bị cáo Nguyễn Thành T, Thông Quyền D, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Phạm Duy L1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Thành T, Lê Vũ K, Nguyễn Thành T3 có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét bị cáo Lê Vũ K có nhân thân xấu, có tiền sự về tội đánh bạc và bị cáo Nguyễn Thành T rủ các bị cáo khác tham gia đánh bạc, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo T, K ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng M và Thông Quyền D sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn so với các bị cáo khác nên hình phạt sẽ cao hơn (Trừ bị cáo K và bị cáo T3).
Đối với các bị cáo Trần Văn H, Bùi Minh T2, Nguyễn Thành T3, Hồ Văn P3, Nguyễn Thành N phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền sử dụng phạm tội không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với bị cáo Phạm Duy L1 tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức và không được hưởng lợi nên hình phạt sẽ thấp nhất.
Bà Phan Thị L2 không biết bị cáo L1 cho các bị cáo sử dụng nhà để đánh bạc và ông Đinh Trọng T4 không biết Trần Văn H, Hồ Văn P3 mượn tiền để đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương không xử lý là phù hợp.
Ngày 07/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định số 05/2020/HSST-QĐ (Lần thứ 1) yêu cầu Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương điều tra bổ sung: Theo hồ sơ vụ án thể hiện Chap Van N1 có quốc tịch Campuchia, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với Chap Van N1, quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, xử lý sau về phần trách nhiệm hình sự là phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Chap Van N1 tham gia trong vụ án này với T cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án do liên quan đến số tiền đánh bạc phải nộp. Chap Van N1 có đơn đề nghị không cử người phiên dịch và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Chap Van N1 sử dụng được tiếng Việt. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, lời khai của Chap Van N1 và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử xét thấy chứng cứ phù hợp với quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Đối với yêu cầu làm rõ, bổ sung lý lịch của bị can Hồ Văn P3: Bị can đã cung cấp địa chỉ cụ thể: Thôn 3, xã Quỳnh Nghĩa, Hện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đối với yêu cầu làm rõ ông Nguyễn Văn T và vợ của bị cáo L1 (Bà Nguyễn Thị T) có biết sự việc các bị cáo đánh bạc tại căn nhà hay không: Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã thực hiện theo yêu cầu của Tòa án, xác định ông Nguyễn Văn T không có mặt tại địa phương còn bà Nguyễn Thị T không biết các bị cáo đánh bạc tại căn nhà do bà T và bị cáo L1 thuê ở. Xét thấy các yêu cầu của Tòa án đã được thực hiện nên không cần trả hồ sơ điều tra bổ sung lần 2.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
01 bộ bài Tây đã qua sử dụng vào mục đích đánh bạc đề nghị tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 6.710.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Số tiền 21.227.000 đồng của Thông Quyền D, trong đó số tiền sử dụng để đánh bạc và thắng bạc là 5.000.000 đồng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 16.227.000 đồng không liên quan đến đánh bạc của bị cáo D cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Số tiền 5.415.000 đồng của Nguyễn Hoàng M, số tiền 1.720.000 đồng của Trần Văn H, số tiền 1.000.000 đồng của Lê Vũ K, số tiền 300.000 đồng của Hồ Văn P3 sử dụng để đánh bạc và thắng bạc, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Số tiền 4.841.000 đồng thu giữ của Chap Van N1 không sử dụng đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối Chap Van N1, quyết định tách vụ án hình sự để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó, cần tạm giữ số tiền để xử lý cùng với việc xử lý hành vi đánh bạc của Chap Van N1.
01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc của Trần Văn H, 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu trắng của Thông Quyền D, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của Nguyễn Thành T3, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen bạc của Nguyễn Hoàng M, 01 điện thoại di động hiệu Nokia có ốp da màu đỏ của Hồ Văn P3, 01 xe môtô biển số 60B6-05598 của T4 Quyền D, xe môtô biển số 64E1-43215 của Nguyễn Hoàng M, 01 xe môtô biển số 66H1-23045 của Bùi Minh T2 không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã trả lại là phù hợp.
01 xe môtô biển số 66H1-06657 của ông Trần Quốc D1. Ngày 15/10/2019, bị cáo Lê Vũ K mượn để đi làm, sử dụng xe đi đến nhà bị cáo Phạm Duy L1 để nhận tiền lương rồi tham gia đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho ông D1 là phù hợp.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thành T và Lê Vũ K là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng M, Thông Quyền D, Trần Văn H, Bùi Minh T2, Nguyễn Thành T3, Hồ Văn P3, Nguyễn Thành N, Phạm Duy L1, về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Vũ K (Tên gọi khác: Trí).
Căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành T3.
Căn cứ các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng M, Thông Quyền D, Trần Văn H, Bùi Minh T2, Hồ Văn P3, Nguyễn Thành N và Phạm Duy L1.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành T, Thông Quyền D, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K (Tên gọi khác: Trí), Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Phạm Duy L1 phạm tội “Đánh bạc”.
1.2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019.
- Xử phạt bị cáo Lê Vũ K (Trí) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 15/10/2019 đến ngày 24/10/2019.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Thông Quyền D số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Trần Văn H số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Bùi Minh T2 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T3 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Hồ Văn P3 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Phạm Duy L1 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp T pháp:
2.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài T3 đã qua sử dụng.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình D1).
2.3. Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
Số tiền 6.710.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm mười nghìn đồng) thu giữ tại chiếu bạc.
Số 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) thu giữ của bị cáo Thông Quyền D.
Số tiền 5.415.000 đồng (Năm triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng M.
Số tiền 1.720.000 đồng (Một triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Trần Văn H.
Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) thu giữ của bị cáo Lê Vũ K.
Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Hồ Văn P3
2.4. Tạm giữ số tiền 4.841.000 đồng (Bốn triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) thu giữ Chap Van N1 để xử lý cùng với việc xử lý hành vi đánh bạc của Chap Van N1.
2.5. Tạm giữ số tiền 16.227.000 đồng (Mười sáu triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn đồng) của bị cáo Thông Quyền D để đảm bảo thi hành án.
(Tổng số tiền 41.213.000 đồng tại Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1119985.00000 ngày 16/3/2020 tại Kho bạc Nhà nước Bắc Tân Uyên).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thành T, Thông Quyền D, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T3, Nguyễn Hoàng M, Lê Vũ K (Trí), Hồ Văn P3, Trần Văn H, Bùi Minh T2 và Phạm Duy L1; mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở T pháp tỉnh Bình Dương; - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bắc Tân Uyên; - Công an huyện Bắc Tân Uyên; - CCTHADS huyện Bắc Tân Uyên; - Các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: VP, HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Vũ Thị Hạnh Võ Phi Anh Toàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thế Chính THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thế Chính |