- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T và Phạm văn G"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn của chị Nguyễn Thị T, cho chị T được ly hôn anh Phạm Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2020/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2020 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hà
2. Ông Nghiêm Văn Luyến
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.
Ngày 27 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2020/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXX-ST, ngày 08 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm: 2001
Địa chỉ: Thôn 4, xã NT, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn G - Sinh năm: 1989
Địa chỉ: Thôn 4, xã NT, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Phiên tòa có mặt chị T; vắng mặt anh G (có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 09/3/2020 và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: chị và anh G kết hôn với nhau vào ngày 14/6/2019, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã Nga T cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung. Đến đầu năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh G sống không quan tâm đến chị, anh G nghe lời bố mẹ, không có chính kiến gì. Xét thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục duy trì, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh G theo quy định.
Về con: Vợ chồng chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên chị không yêu cầu gì.
Đối với bị đơn anh Phạm Văn G, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Anh G nhận đầy đủ các văn bản nhưng cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh G vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành đối với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử. Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh G theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh G có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.Theo chị T trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung. Đến đầu năm 2020, chị T đã trở về nhà mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng cũng chính thức sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Đối với anh G mặc dù biết chị T yêu cầu ly hôn nhưng cố tình vắng mặt, không thể hiện quan điểm. Chứng tỏ anh G không có thiện chí níu kéo tình cảm để vợ chồng trở về đoàn tụ. Xét cuộc sống chung của chị T và anh G không hàn gắn được, chị T cương quyết ly hôn anh G nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn anh G là phù hợp quy định.
Về con: Vợ chồng chưa có con chung nên chị không có yêu cầu.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn của chị Nguyễn Thị T, cho chị T được ly hôn anh Phạm Văn G.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí DSST là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0010702 ngày 09/3/2020 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị T đã nộp đủ án phí DSST.
3. Quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nga Sơn; - Các đương sự; - Phòng GĐ- KT Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND xã NT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Huệ |