- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Huỳnh Thị Thái B tranh chấp ly hôn và nuôi con đối với anh Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Thái B đối với anh Nguyễn Văn T. Chị B được ly hôn với anh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2020/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2020 V/v Tranh chấp về ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Kim Thành.
2. Ông Hồ Huy Cường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Son – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thái B, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, huyện G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lần hòa giải nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thái B trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau vào tháng 5 năm 2017, có tìm hiểu trước khoảng 01 năm, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G vào ngày 12-01-2018. Ngày làm lễ cưới gia đình anh T không có cho chị nữ trang nhưng vợ chồng chị có tự bỏ tiền mua nữ trang gồm 01 sợi dây chuyền 02 chỉ vàng 24K, 01 chiếc lắc tay 02 chỉ vàng 24K, 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24K và 01 cặp nhẫn cưới khoảng 01 chỉ vàng 18K. Hiện số nữ trang này không còn do vợ chồng chị đã bán để lo chi phí nuôi con. Sau đó vợ chồng chị về nhà cha mẹ chồng tại ấp S, xã Đ, huyện G sinh sống và làm ăn.
Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng chị thường xảy ra cải nhau về việc chuyện tiền bạc trong gia đình. Anh T đi làm về là rượu chè, cờ bạc, bỏ bê công việc gia đình mà không quan tâm nên mọi việc trong gia đình đều do chị lo lắng và chăm sóc. Chị đã khuyên anh T nhiều lần nhưng không thay đổi mà cha chồng chị lại bênh vực anh Thanh dẫn đến việc chị xảy ra mâu thuẫn với gia đình chồng. Đến tháng 8-2020 chị bỏ nhà về nhà cha mẹ chị tại ấp huyện D, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Kể từ ngày ly thân anh T có đến gặp mặt chị vài lần để bàn bạc việc đoàn tụ, chị yêu cầu anh T thuê nhà trọ để sống chung nhưng anh T không đồng ý và vợ chồng không thể đoàn tụ. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Anh chị có 01 người con tên Nguyễn Cát An N, sinh ngày 10-6-2018. Hiện cháu N đang sống với chị nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T để thu thập chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh T không đến nên không có ý kiến bằng văn bản để gửi cho Tòa án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B đối với anh T, chị B được ly hôn với anh T; về con chung: Giao cho chị B có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Cát An N, ghi nhận chị B không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị B và anh T chung sống với nhau vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G. Do đó, hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, nay chị B có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.
Xét yêu cầu ly hôn của chị B thì thấy: Mâu thuẫn của anh chị chủ yếu phát sinh từ việc kinh tế trong gia đình khó khăn. Anh T rượu chè và cờ bạc không quan tâm đến chuyện gia đình nên một mình chị B phải gánh vác. Bênh cạnh đó, chị B xảy ra mâu thuẫn với gia đình chồng mà không thể sống chung nên chị B yêu cầu anh T thuê nhà trọ sống nhưng anh T không đồng ý. Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng của anh chị nhưng anh T không đến, chứng tỏ anh T đã bỏ mặc đến tình cảm của vợ chồng và không có thiện chí được đoàn tụ với chị B. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Cát An N, sinh ngày 10-6-2018. Chị B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện cháu N dưới 36 tháng tuổi và kể từ ngày anh chị ly thân cho đến nay cháu N sống với chị B nên Hội đồng xét xử cần giao cháu N cho chị B được quyền tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị B không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Từ những nhận định trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị B phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Thái B đối với anh Nguyễn Văn T. Chị B được ly hôn với anh T.
2. Về con chung: Giao cho chị B có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Cát An N, sinh ngày 10-6-2018. Ghi nhận chị B không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị B đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000041 ngày 06 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Chị B đã nộp xong tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM HỘI Đ NG X T X
TH M
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - CC.THADS huyện Gò Dầu; - UBND xã Đ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TH M PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Tuấn Anh |