vanban.org

Bản án 26/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim Y, cho chị Nguyễn Thị Kim Y được ly hôn với anh Đỗ Quang H.

Về con chung: Giao 01 con là Đỗ Quang V, sinh ngày 14/5/2014 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác.Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H vì chị Y không có yêu cầu. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim Y, cho chị Nguyễn Thị Kim Y được ly hôn với anh Đỗ Quang H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 26/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 09/11/2020
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUY

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Anh Tuấn

2. Bà Đàm Thị Thanh Mai

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lô Thị Lệ Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái NguY.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Thái - Kiểm sát viên

Ngày 9 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái NguY mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 164/2020/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2020 về Tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 7/10/2020 giữa các đương sự:

1. NguY đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm P, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên

2. Bị đơn: Anh Đỗ Quang H, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Y trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh H kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Hán, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xóm P, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống vợ chồng chỉ sống với nhau thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nguyên nhân do anh H mải chơi, không tu chí làm ăn, bỏ mặc gia đình, vợ con. Từ năm 2018, chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở xóm P, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa.

Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Quang V, sinh ngày 14/5/2014. Hiện con chung đang ở với bà Phạm Thị L, là mẹ đẻ của bị đơn anh Đỗ Quang H. Sau khi hai vợ chồng ly hôn, chị Y có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh H đang đi làm ăn xa không thể về để giải quyết vụ án được nên Tòa án đã lập biên bản làm việc với bà Phạm Thị L, là mẹ đẻ anh Đỗ Quang H để xác minh tình trạng hôn nhân của chị Y– anh H và tống đạt các văn bản thông báo, quyết định cho anh H. Tại biên bản làm việc ngày 20/8/2020 bà L cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của chị Y – anh H như sau: chị Y - anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu nhau trước khi kết hôn và được cả hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn, chị Y và anh H cùng chung sống bên nhà vợ ở xóm P, xã L, huyện V. Vợ chồng anh H và chị Y mâu thuẫn với nhau như thế nào thì bà không nắm được, bà chỉ nghe anh H kể lại với bà về việc vợ chồng cãi nhau nên anh H mang theo con bỏ về nhà bà, sống ly thân với chị Y từ năm 2018 cho đến nay. Chị Y thỉnh thoảng mới về thăm con chung. Vợ chồng Y- H không nói chuyện với nhau. Anh H đã biết việc chị Y xin ly hôn với anh, anh có nói với bà rằng nếu chị Y xin ly hôn thì anh cũng nhất trí vì vợ chồng không thể quay về chung sống với nhau được. Hiện tại, anh H đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà nên không thể về để giải quyết vụ án. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

Về con chung: Vợ chồng chị Y – anh H có 01 con chung là Đỗ Quang Việt, sinh ngày 14/5/2014. Hiện tại cháu Việt đang ở cùng bà L. Bà L cho biết, anh H có ý kiến về việc nhất trí để con cho chị Y nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H sẽ cấp dưỡng nuôi con theo điều kiện, khả năng của anh. Về tài sản chung: theo bà L cung cấp thông tin thì vợ chồng không có tài sản chung; về phần nợ chung bà L cho biết vợ chồng chị Y anh H có nợ tiền của bà nhưng anh H đã nhận trách nhiệm trả cho bà, ngoài ra vợ chồng vay nợ ai thì bà không nắm được.

Anh H đã được tống đạt các văn bản, thông báo, quyết định của toà án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên toà ngày hôm nay, anh H vẫn vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: NguY đơn về cơ bản đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 21, 28, 35, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguY đơn chị Nguyễn Thị Kim Y, cho chị Y được ly hôn anh H. Về con chung: Giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H vì chị Y không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết. Về án phí: chị Y phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình bị đơn Hộ khẩu thường trú tại: huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đ đã tiến hành làm việc với thân nhân của anh H để xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng. Toà án cũng đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên toà cho bị đơn nhưng cả hai lần mở phiên toà anh H đều vắng mặt nên căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Đỗ Quang H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kêt hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Căn cứ lời khai của nguyên đơn, vợ chồng sống không hạnh phúc do anh H mải chơi, không quan tâm đến vợ con. Vợ chồng không cùng chí hướng, anh H không chăm lo cho vợ con nên chị Y nhận thấy cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Đến nay, chị Y xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên xin được ly hôn. Tại phiên toà, chị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Qua ý kiến của thân nhân anh H được biết: anh cũng nhất trí ly hôn với chị Y vì vợ chồng không thể quay về chung sống với nhau được. Anh H đã biết việc Toà án đang giải quyết vụ án ly hôn của vợ chồng anh nhưng anh không có ý kiến gì thể hiện mong muốn níu kéo cuộc hôn nhân. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị Y và anh H đã trở nên mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm và không thể chung sống được với nhau nữa, vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu tiếp tục kéo dài cuộc hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Do vậy, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y, cho chị Y được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Y và anh H có có 01 con chung là Đỗ Quang V, sinh ngày 14/5/2014. Hiện cháu V đang ở cùng với bà nội. Chị Y có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con sau khi vợ chồng ly hôn và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét lời khai của chị Y, biên bản xác minh của Tòa án qua thân nhân của anh H anh nhất trí để con cho chị Y nuôi dưỡng. Nên cần Tòa án chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của chị Y , giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H vì chị Y không yêu cầu.

Vì lợi ích của con, sau khi ly hôn, các đương sự có quyền thỏa thuận hoặc có quyền khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc về việc cấp dưỡng nuôi con nếu thấy cần thiết.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết do không có yêu cầu.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Kim Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 174, 175, 177, 196, 220, 227, 228, 271 và Điều 273 của BLTTDS 2015; Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

TuY xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim Y, cho chị Nguyễn Thị Kim Y được ly hôn với anh Đỗ Quang H.

2. Về con chung: Giao 01 con là Đỗ Quang V, sinh ngày 14/5/2014 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác.Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H vì chị Y không có yêu cầu. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Kim Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung quỹ Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016734 ngày 17/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái NguY.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguY đơn báo cho Chị Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án. Anh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ