vanban.org

Bản án 26/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 15/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cá o: Vi Văn N - tên gọi khác: không.

Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điể m c khoả n 1 Điề u 249; điể m s khoản 1 Điều 51 Bộ luậ t Hì nh sự . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Nam - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cá o: Vi Văn N - tên gọi khác: không.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
_______________________
Bản án số: 26/2019/HSST
Ngày: 15/5/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễ n Thế Căn

- Ông Nguyễ n Văn Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa á n nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Toàn, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/HSST- QĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: VI VĂN N (tên gọi khác: không); sinh ngày 07 tháng 8 năm 1990, tại: Tương Dương, Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Bản M, xã Th, huyện T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Thành phố Đ, tỉnh Q, Trung Quốc; trình độ họ c vấ n : 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quố c tị ch : Việ t Nam ; dân tộ c: Thái; tôn giá o: Không; con ông: Vi Văn T, sinh năm 1971; con bà : Vi Thị Ng, sinh năm 1969; vợ,con: chưa có ; tiề n á n, tiề n sự : chưa; Nhân thân: Ngày 20/4/2011, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2018, hiệ n tạ m giam tạ i Nhà tạ m giữ - Công an thà nh phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

Người chứng kiến: Ông Vũ Xuân B, sinh năm 1964. Địa chỉ: Khu x, phườ ng H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên sáng ngày 28/12/2018, Vi Văn N đi đến khu vực cổng Trung tâm y tế thành phố M, gặp và hỏi mua ma tuý của 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ). Người thanh niên đồng ý bán và nhận từ N số tiền 200.000 đồng và đưa cho N 02 chiếc bơm tiêm, 01 ống nước cất và chỉ địa điểm cho N đến lấy gói ma túy tại 01 lỗ thủng trên bờ tường ngôi nhà hoang phía sau khu vực cây xăng Ninh Dương thuộc khu Th, phường N, thành phố M. Sau khi mua và nhận ma túy, N cầm gói ma túy trên tay định đi tìm nơi để sử dụng thì bị Công an thành phố M kiểm tra phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, 02 chiếc xi lanh, 01 ống nước cất, 01 giấy thông hành mang tên Vi Văn N và số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa bị cáo có lời khai thể hiện: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo đi đến khu vực Trung tâm y tế thành phố M gặp và mua của người thanh niên không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000đ mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.

Ngườ i chứng kiến ông Vũ Xuân B có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm ông được chứng kiến việc lập biên bản phạm tội quả tang đối với Vi Văn N về việc Nam mua ma túy để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ. Việc bắt giữ và lập biên bản đối với N được thực hiện đúng và đảm bảo các quy định pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định số 140/GĐMT ngày 04 tháng 01 năm 2019, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Vi Văn N gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine; Khối lượng: 0,106 gam (không phẩy một không sáu gam) (Bút lục số 30).

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS-MC, ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Vi Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tạ i điể m c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phần tranh luận , Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t giữ nguyên quyế t định truy tố , đề nghị Hội đồ ng xé t xử á p dụ ng : Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Vi Văn N từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thờ i gian chấ p hà nh hì nh phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 28/12/2018.

Về hình phạt bổ sung : Không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i

vớ i bị cá o.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn. Bên ngoài ghi số 140/GĐMT, bên trong đựng mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 02 chiếc xi lanh và 01 lọ nước cất.

Trả lại Vi Văn N 01 giấy thông hành mang tên Vi Văn N và số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 100.000đ nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng

như bản cáo trạng đã truy tố; không có nội dung tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa .

Trong lờ i nó i sau cù ng : Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình

phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hà nh vi , quyế t định tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tộ i danh : Lờ i nhậ n tộ i củ a bị cá o tạ i Cơ quan điề u tra và tạ i phiên tòa phù hợp với nhau ; phù hợp với lời khai ngườ i chứ ng kiến; kết luận giám định; sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường cù ng các tài liệu , chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa . Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 28/12/2018 bị cáo Vi Văn N có hành vi mua ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ.

Hành vi ph ạm tội, lượng ma túy thu giữ sau kết luận giám định của bị cáo Vi Văn N đã thỏ a mã n tì nh tiế t quy định tạ i điể m c khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t hình sự. Do đó , Hộ i đồ ng xé t xử đủ cơ sở kế t luậ n bị cá o Vi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tạ i điể m c khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hình sự như nội dung bả n cá o trạ ng củ a Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố M đã truy tố là có cơ sở , đú ng ngườ i, đú ng tộ i.

Do đó , việ c đưa bị cá o ra xé t xử cô ng khai là cầ n thiế t và buộ c bị cá o phả i chịu trách nhiệm về hành vi của mình , đả m bả o tí nh nghiêm minh củ a phá p luậ t , đề cao tính giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hì nh phạ t chí nh:

Xét hành vi phạm tội: Bị cáo cố ý thực hiệ n tộ i phạ m , biết rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm , nhưng do ăn chơi, bị cáo sẵn sàng bỏ tiền mua và tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y mục đích sử dụ ng cho bả n thân, bấ t chấ p cá c quy định củ a phá p luậ t. Do đó, đối với bị cáo cần phải có hình phạt nghiêm.

Khi quyế t định hì nh phạ t cầ n xem xé t tì nh tiế t tăng nặ ng , giảm nhẹ trách nhiệ m hì nh sự cho bị cá o.

Về tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” bị xử phạt 30 tháng tù xong không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân và tiếp tục chơi bời mua ma túy để sử dụng, dó đó cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong giai đoạn điều tra , truy tố, xét xử và tại phiên tòa , bị cáo đề u có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên, cần thiết cho bị cá o đượ c hưở ng tình tiết giảm nhẹ quy đị nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hì nh phạ t bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i vớ i bị cá o.

Về xử lý vậ t chứ ng : Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã chuyển theo hồ sơ vụ án gồm:

- 01 Phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn. Bên ngoài ghi số 140/GĐMT, bên trong đựng mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh. Đây là mẫu vật ma túy thu giữ của bị cáo Nam hoàn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy.

- 02 chiếc xi lanh và 01 lọ nước cất bị cáo dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy do đó cần tịch thu tiệu hủy.

- 01 giấy thông hành mang tên Vi Văn N và số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 100.000đ không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩ m : Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc khu vực III theo Quyết định số 582/QĐ - TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyế t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mứ c thu, miễ n, giảm, thu, nộ p, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Về quyề n khá ng cá o : Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án có đối tượng đã bán ma túy cho N, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý, Hội đồng xét xử không đề cập.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cá o: Vi Văn N - tên gọi khác: không.

Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điể m c khoả n 1 Điề u 249; điể m s khoản 1 Điều 51 Bộ luậ t Hì nh sự .

Xử phạ t: Vi Văn N 18 (mười tám) tháng tù, thờ i hạ n chấ p hà nh hì nh phạ t tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ; ngày 28/12/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủ y : 01( một) Phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn. Bên ngoài ghi số 140/GĐMT, bên trong đựng mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh mẫu vật hoàn lại sau giám định; 02 chiếc xi lanh; 01 lọ nước cất.

Trả lại bị cáo Vi Văn N 01 giấy thông hành mang tên Vi Văn N và số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 100.000đ nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

(Hiện trạng vật chứng được miêu tả theo Lệ nh xuấ t kho vậ t chứ ng số 41 ngày 02/4/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M và biên bản giao nhận vật chứng số 35/2019/THA ngày 11/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về quyền kháng cáo : Áp dụng khoả n 1 Điều 331; Khoản 1 Điề u 333 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Báo cho bị cá o Vi Văn N biế t có quyề n khá ng cá o bả n á n sơ thẩ m trong thờ i hạ n 15 ngày (mườ i lăm) ngày kể từ ngà y tuyên á n , ngày 15/5/2019.

Cỡ chữ