- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vàng Văn Đ, thụ lý số 32/2019/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2019 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Vàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HSST Ngày 24 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Long Các hội thẩm nhân dân: Bà:
Hoàng Thị Kim Quy Ông:
Giàng A Chỉnh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Hồng Phúc Thư ký TAND thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Dƣơng Thị Ngọc
Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019 mở phiên tòa công khai sơ thẩm tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để xét xử vụ án hình sự thụ lý số 32/2019/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐXXST-HS ngày 11/9/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Văn Đ; Sinh năm: 1981 tại tỉnh Lai Châu; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản Lở Thàng 2, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 0/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Văn H (đã chết năm 2002) và bà Vàng Thị M – sinh năm 1956; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có 2 vợ, vợ thứ nhất là Sìn Thị C – sinh năm 1983 (đã ly hôn năm 2010), vợ thứ hai Lò Thị L – sinh năm 1989 và có 04 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2017 (2 con với chị C và 2 con với chị L); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: xấu (năm 2009 bị Toà án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” ngày 15/10/2010 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, hiện đã được xoá án tích; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2019 cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Họ và tên: Vùi Văn Y Sinh năm: 1983
Trú tại: bản Chin Chu Chải, xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 28/6/2019 Tổ công tác Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên đường QL4D (thuộc khu vực tổ 23, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu). Phát hiện một đối tượng nam giới điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA Win100, BKS 25F1-2216, đi theo hướng xã San Thàng – Thành Phố có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác ra hiệu dừng xe, đối tượng không chấp hành mà bỏ chạy đồng thời ném từ tay trái xuống vỉa hè bên phải (gần cột đèn đường) một gói nilon màu hồng. Tổ công tác khống chế, đối tượng khai nhận tên là Vàng Văn Đ (Sinh năm: 1981; Trú tại bản Lở Thàng 2, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu) nghiện ma tuý và có sử dụng heroine, gói nilon màu hồng (bên trong là hai lớp nilon màu trắng) Đ vừa ném là heroine của Đ. Tổ công tác mời người chứng kiến đến nơi Đ ném heroine, Đ tự giác nhặt gói heroine giao cho tổ công tác, Tổ công tác lập biên bản đưa Đ về trụ sở làm rõ.
Tại cơ quan điều tra Đ khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 28/6/2019 Đ từ nhà (bản Lở Thàng 2, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu) đi lên Thành phố Lai Châu giải quyết việc cá nhân. Khi đến cầu cạn (thuộc bản Lùng Than, xã San Thàng, thành phố Lai Châu) thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi (không biết tên và nơi cư trú). Đ hỏi có heroine bán cho một ít để sử dụng, người đó nói có và hỏi lại lấy bao nhiêu, Đ bảo 3.000.000VNĐ và lấy 30 tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ đưa cho người đó. Người đàn ông cầm tiền đi đâu đó khoảng 05 phút quay lại đưa cho Đ một gói được gói ngoài bằng nilon màu hồng, Đ mở ra xem bên trong là hai lớp nilon màu trắng, trong cùng là heroine (người đó đi đâu Đ không biết), Đ gói lại như cũ và cầm ở tay trái và tiếp tục đi lên thành phố. Đến gần lối rẽ vào Công an tỉnh Lai Châu thì bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật (như diễn biến ở trên).
Sau khi tạm giữ Đ, Cơ quan điều tra đã xét nghiệm ma tuý với Đ, kết quả Đ dương tính với Morphine (BL42-43)
Ngày 28/6/2019 Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng (BL76-77); Chất bột khô vón cục màu trắng do Đ giao nộp sau khi đã loại bỏ lớp giấy gói có khối lượng là 7,31gam Hội đồng nhất trí lấy 1,64gam gửi giám định không hoàn lại; Còn lại 01 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh nilon màu trắng, 5,67gam chất bột màu trắng (gói lại bằng mảnh giấy màu trắng) được niêm phong trong một phong bì công văn của Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
Trong quá trình điều tra Đ khai chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Win100, BKS 25F1-2216 bị thu giữ là Đ mượn của em rể Vùi Văn Y (sinh năm 1983; Trú tại bản Chin Chu Chải, xã San Thàng, thành phố Lai Châu). Cơ quan điều tra triệu tập anh Y, tại cơ quan điều tra anh Y khai chiếc xe nhãn hiệu HONDA Win100, BKS 25F1-2216 là của anh Y mua của ông Tẩn Chỉn D (sinh năm 1976; Trú tại bản Chí Sáng, xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) từ năm 2010, chưa sang tên và anh Y cung cấp Giấy đăng ký xe mang tên Tẩn Chỉn D. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh kết quả ông Tẩn Chỉn D đã chuyển đi nơi khác sinh sống (không biết đi đâu); Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lai Châu xác nhận nguồn gốc chiếc xe đúng như đăng ký xe; Chính quyền xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ xác nhận từ năm 2010 không có ghi nhận nào về việc báo mất xe của ông D. Vì vậy xác định Vùi Văn Y là người quản lý tài sản hợp pháp.
Đối với người bán heroine cho Đ, do Đ không biết họ tên và nơi cư trú vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Kết luận giám định số 321/GĐ-KTHS ngày 01/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu (BL80) đã kết luận: 01 (một) mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Văn Đ gửi giám định là ma tuý, loại heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 27/CT-VKSTP ngày 29/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (BL102-104) đã truy tố Vàng Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện và để thoả mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố tình thực hiện.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vùi Văn Y được triệu tập hợp lệ, tại phiên toà Y khai nhận đúng như tại cơ quan điều tra, chiếc xe là Y mua của ông D và chưa sang tên. Y đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc xe máy và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Vàng Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. khoản 2, khoản 3 Điều 106/BLTTHS. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo từ 06 đến 07 năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2019; Miễn hình phạt bổ sung; Vật chứng xử lý theo quy định; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: 09 giờ 30 phút ngày 28/6/2019 tại đường QL4D thuộc tổ 23, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu; Vàng Văn Đ đã có hành vi tàng trữ 7,31gam heroine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho nhu cầu của bản thân, thì bị kiểm tra phát hiện bắt giữ.
Điều 249/BLHS quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 nnăm:
…
g) … Heroine .. có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30gam.
…
Bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên để sử dụng cho nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về ma túy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự an ninh trong quần chúng nhân dân.
Nhân thân bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh ra tại tỉnh Lai Châu, không được đi học, ở nhà lao động, xây dựng gia đình. Có nhân thân xấu thể hiện ở việc năm 2009 bị Toà án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu của bản thân. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS đối với bị cáo; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào;
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cho gia đình.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249/BLHS quy định: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tuy nhiên bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập chủ yếu từ việc chăm sóc thu hoạch chè cùng gia đình, không có tài sản riêng, nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
7,31gam heroine, đã gửi đi giám định không hoàn lại 1,64gam, số còn lại 5,67gam cần tịch thu tiêu huỷ.
01 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh nilon màu trắng hết giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Win100, BKS 25F1-2216 Điểm mượn của Vùi Văn Y, Y không biết Điểm xe dùng vào mục đích gì vì vậy cần trả lại chiếc xe cho Vùi Văn Y là phù hợp.
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 47/BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
[1] Tuyên bố bị cáo Vàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
[2] Xử phạt bị cáo Vàng Văn Đ 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 28/6/2019.
[3] Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
[4] Tịch thu: 7,31gam heroine (đã gửi đi giám định không hoàn lại 1,64gam, số còn lại 5,67gam); 01 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh nilon màu trắng để tiêu huỷ.
Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Win100, BKS 25F1-2216 cho người quản lý hợp pháp Vùi Văn Y.
Vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu. Tình trạng vật chứng như Biên bản giao giữa Công an và Chi cục THA dân sự thành phố Lai Châu hồi 15 giờ ngày 30/8/2019.
[5] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND thành phố Lai Châu; - Chi cục THADS thành phố; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Đức Long |