vanban.org

Bản án 26/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 17/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu H, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Nguyễn Hữu H, 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/02/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN
TỈNH THANH HÓA
––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:26/2019/HS-ST
Ngày 17 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Liễu;

Ông Nguyễn Văn Thơm;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố sầm sơn tham gia phiên tòa:

Ông Trần Văn Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2019/TLST- HS ngày 16 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXXST- HS ngày 04tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

- Nguyễn Hữu H, sinh năm 1968; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: Khu phố Long Sơn, phường Bắc Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu Nghị và bà Nguyễn Thị Bao (đều đã chết); vợ, con: Chưa có; gia đình có 5 anh em, Hội là con thứ năm; tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 26/6/1996, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây

(nay là thành phố Hà Nội), xử 18 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng và bắt giữ người trái phép. Chấp hành xong 20/5/1997;

- Ngày 04/5/2005, Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn (nay là thành phố Sầm

Sơn) , tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 42 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội: “Tàng tữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 02/3/2008;

- Ngày 19/12/2012, Quyết định số: 2417/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đưa đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại trung tâm cai nghiện 05 - 06 của tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2019, chuyển tạm giam ngày 01/3/2019. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: 1. Anh Nguyễn Văn T– sinh năm 1991; địa chỉ: Khu

phố Sơ Thủy, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa;

2. Anh Nguyễn Hữu H – sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố Tài Lộc, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa;

3. Anh Lê Thế S – sinh năm 1980; địa chỉ: Khu phố Long Sơn, phường Bắc Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15h30’ ngày 20/02/2019, Công an thành phố Sầm Sơn, phát hiện bắt quả tang tại phòng khách nhà của Nguyễn Hữu H thuộc khu phố Long Sơn, phường Bắc Sơn, thành phố Sầm Sơn. Hội đang bán 02 gói hêrôin cho Nguyễn Văn Tlấy 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Kiểm tra thu giữ trong túi áo khoắc bên phải của Nguyễn Văn Tđang mặc 02 gói giấy nhỏ màu trắng, kích thước 0,5x1,5cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng ngà, dạng vụn cục (niêm phong kí hiệu M1); thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Hữu H, 01 hộp kim loại màu xanh có chữ Doublemint, bên trong hộp có một gói giấy nhỏ màu trắng, kích thước 0,5x1,5cm chứa chất bột màu trắng ngà dạng vụn cục (niêm phong kí hiệu M2); thu giữ tại túi quần sau bên trái của Nguyễn Hữu H số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng); thu tại túi quần bên trái của Nguyễn Văn T01 điện thoại di động samsung màu trắng model: GT- C3303K chứa thẻ sim. Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Văn T01 xe máy Wave& màu trắng, BKS: 36B4-05228. Tang vật thu giữ niêm phong đưa về trụ sở của cơ quan Công an để lập biên bản cùng đối tượng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hữu H thu giữ: 09 gói giấy nhỏ màu trắng có kích thước 0,5x1,5cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng ngà, dạng vụn cục (niêm phong kí hiệu M4); 01 túi nilon loại vỏ túi đựng xi lanh, kích thước 3x7cm, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, dạng vụn cục (niêm phong kí hiệu M4); 01 túi nilon loại vỏ túi đựng xi lanh, kích thước 3x7cm, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, dạng vụn cục (niêm phong kí hiệu M5); 01 phong bì giấy loại phong bì lì xì bên trong chứa 15 mảnh giấy màu trắng, kích thước 3x3cm; 02dao lam loại cromma đã qua sử dụng; 02 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 02 ống Novocaine chưa qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh, seri 351949057572516 chứa thẻ sim.

Kết luận giám định số 626/MT-PC09, ngày 24/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:

- Chất bột màu trắng ngà dạng vụn cục của phong bì niêm phong kí hiệu M1gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,061g (không phẩy không sáu mốt gam) loại: hêrôin.

- Chất bột màu trắng ngà dạng vụn cục của phong bì niêm phong kí hiệu M4 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,051g (không phẩy không năm mốt gam) loại: hêrôin.

- Chất bột màu trắng ngà dạng vụn cục của phong bì niêm phong kí hiệu M4 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,0481g (không phẩy không bốn tám mốt gam) loại: hêrôin.

- Chất bột màu trắng ngà dạng vụ cục của phong bì niêm phong kí hiệu M5 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,174g (một phẩy một bảy tư gam) loại: hêrôin.

Quá trình điều tra Nguyễn Hữu H, Nguyễn Văn Tkhai nhận như sau:

Với mục đích mua ma túy về bán kiếm lời, vào khoảng 19h ngày 19/02/2019, Nguyễn Hữu H đón xe buýt từ thành phố Sầm Sơn lê khu vực cầu Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, Hội gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) được 01 túi nilon (loại vỏ túi đựng xi lanh) bên trong chứa hêrôin. hội đem số ma túy trên về nhà dùng dao lam có sẵn phân chia thành 12 gói nhỏ. Hội bỏ 09 gói vào một mảnh túi ni lon đen rồi cất vào trong túi áo khoác bên phải và treo áo trên dây phơi tại phòng ngủ, còn 03 gói Hội bỏ vào một hộp sắt màu xanh có chữ Doublemint rồi cất hộp này vào túi quần trước bên phải đang mặc. Số hê rô in còn lại chưa chia, Hội vẫn để trong túi ni lon như lúc đầu và cất giấu vào một hộp nhựa hình tròn màu tím, dao lam và các mảnh giấy cắt được còn thừa Hội cất vào trong bao lì xì, tất cả được bỏ vào trong một hộp giấy để trong ngăn bàn ti vi tại phòng ngủ.

Vào khoảng 15h20’ ngày 20/02/2019 Nguyễn Văn Tđi xe máy từ nhà ở khu phố Sơn Thủy, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn đến nhà Nguyễn Hữu H với mục đích mua ma túy về sử dụng, khi đi đến ngã tư Nguyễn Trãi - Lê Lợi thuộc khu phố Thành Ngọc, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn thì gặp Nguyễn Hữu H. Tuấn rủ Hòa “Em đi chơi với anh đi”, Hòa đồng ý và lên xe máy đi cùng. Tuấn dùng điện thoại Samsung có sim số 0939119919 gọi đến điện thoại của Hội có sim số 0348233893 và nói “Cháu Tuấn đây, chú có nhà không, chú ra bná cho cháu 02 tép hê rô in”. Hội nói “Tao đang ở nhà”. Tuấn chở Hòa đến nhà Hội, đến nơi, Tuấn dựng xe ở cổng rồi cùng Hòa đi vào phòng khách gặp Hội, Tuấn nói “Bán cho cháu 02 tép hêrôin” đồng thời đưa cho Hội 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng ) gồm 02 tờ tiền 100.000đ và 01 tờ tiền 200.000đ. Hội cầm tiền cất vào túi quần sau bên trái đang mặc và lấy từ túi quần trước bên phải ra một hộp sắt màu xanh có chữ Doubleminl, lấy ra 02 tép hê rô in đưa cho Tuấn, Tuấn cầm hêrôin cất vào túi áo khoác bên phải, còn Hội cất chiếc hộp đựng hêrôin vào túi quần trước bên phải thì bị Công an thành phố Sầm Sơn phát hiện và bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án gồm: Số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành; 01 điện thoại Nokia 1280 màu xanh đã qua sử dụng bên trong chứa thẻ sim 0348233893; 01 điện thoại sam sung mà trắng đã qua sử dụng bên trong chứa thẻ sim 0939119919; 01 hộp kim loại màu xanh có chữ Doubleminl; 01 hộp nhựa hình tròn màu tím đường kính khoảng 3cm; 01 phong bì lì xì bên trong chứa 15 mảnh giấy nhỏ màu trắng kích thước 3x3cm; 02 dao lam loại croma; 02 xi lanh nhựa; 02 lọ Nounocaine chưa qua sử dụng, tiền VNĐ: 400.000đ gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ. Hiện đang quản lý theo hồ sơ vụ án.

Qua quá trình điều tra xác định chiếc xe máy honda Wave& màu trắng BKS: 36B4-05228 thu giữ khi tiến hành bắt quả tang các đối tượng, có chủ sở hữu hợp pháp là anh Văn Đình Chung. Ngày 20/02/2019, anh Chung cho Tuấn mượn xe máy đi công việc mà không rõ Tuấn đi đâu làm gì. Anh Chung có đơn xin xe và có xác nhận của chính quyền địa phương, tra cứu chiếc xe máy không phải là vật chứng của vụ án khác và không thuộc diện thông báo truy tìm. Xét thấy việc trả lại chiếc xe là có căn cứ. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên cho anh Văn Đình Chung.

Cáo trạng số 26/CTr - VKS.SS ngày 25 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, truy tố Nguyễn Hữu H, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 251 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015, xử phạt Nguyễn Hữu H, mức án từ 42 tháng đến 48 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và tiền án phí theo qui định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ, khách quan, nghiêm túc các bước điều tra, truy tố theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đối với trường hợp Nguyễn Văn Tuấn, do mua hêrôin nhằm mục đích sử dụng, qua giám định có khối lượng 0,061gam, loại hêrôin. Bản thân Tuấn chưa có tiền án về các tội ma túy, chưa bị xử lý hành chính về hành vi tàng trữ tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của Tuấn chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 21, Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Công an thành phố Sầm Sơn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thông báo đến gia đình và chính quyền địa phương biết để quản lý, giáo dục Tuấn; Đối với Nguyễn Văn Hòa, trong quá trình điều tra, làm rõ đủ căn cứ khẳng định Hòa hoàn toàn không tham gia vào việc trao đổi mua bán ma túy với Hội. Cơ quan điều tra trả tự do và không xử lý Nguyễn Văn Hòa; Về nguồn gốc ma túy, có khối lượng là 1,767 gam, loại: hêrôin, Nguyễn Hữu H khai báo mua của một nam thanh niên lạ mặt khoảng 20 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1,60m không rõ nhân thân, lai lịch tại cầu Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Do đó không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý theo qui định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng trong vụ án này cũng không khiếu nại gì.

. Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Hội thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong vụ án. Cụ thể: Nguyễn Hữu H, đã mua 1.200.000đ, được 1,767 gam hêrôin đem về nhà chia nhỏ nhằm bán kiếm lời. Vào hồi 15h20’ ngày 20/02/2019 Nguyễn Hữu H đã bán cho Nguyễn Văn T02 gói hêrôin, trọng lượng 0,061 gam lấy 400.000đ tại phòng khách nhà Nguyễn Hữu H, thì bị bắt quả tang, khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Hội thu giữ 1,655 gam hêrôin.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn quyết định truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào. Bị cáo Hội đã có hành vi mua bán theo nghĩa thông thường là dùng số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), mua 1,767 gam hêrôin chia thành các gói nhỏ để bán kiếm lời, bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Như vậy bị cáo đã hoàn thành hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo biết ma túy là mối đe dọa đến sự phát triển lành mạnh của giống nòi, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức xã hội, làm soái mòn đến nhiều mặt của đời sống con người và làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, để bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật.

[4]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu cụ thể ngày 26/6/1996, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội), xử phạt 18 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng và tội bắt giữ người trái phép. Chấp hành xong 20/5/1997; ngày 04/5/2005, Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn (nay là thành phố Sầm Sơn) , tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 42 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 02/3/2008; Ngày 19/12/2012, Quyết định số: 2417/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đưa đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại trung tâm cai nghiện 05-06 của tỉnh Thanh Hóa, đã chấp hành xong trở về địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhân thân đã từng bị kết án về các tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy và là đối tượng nghiện ma túy đã từng cai nghiện bắt buộc, sau khi được trở về địa phương không từ bỏ ma túy mà còn tái nghiện, mặc dù đang điều trị cai nghiện bằng methadon tại trung tâm y tế thành phố Sầm Sơn và đã được cảm hóa giáo dục nhưng không chịu rèn luyện bản thân, mà ngày càng lao vào con đường phạm tội vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bất chấp pháp luật. Bị cáo đã tìm mua ma túy về phân lẻ bán kiếm lời, khi Tuấn gọi điện hỏi mua ma túy Hội đã bán cho Nguyễn Văn T01 lần bằng 02 tép hêrôin lấy 400.000đ. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS năm 2015, do đó cũng cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, nhưng việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng và tiền án phí: Xử lý theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1, khoản 5, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Điều 61; Điều 331; Điều 333; khoản 2, Điều 136; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu H, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Hữu H, 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/02/2019.

Về xử lý vật chứng bao gồm: - 01 phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết Lại Thị Thanh Loan, Lê Minh Tiến, Nguyễn Quang Long, chữ ký và hình dấu tên có nội dung Nguyễn Trần Đăng và 07 hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa;

- 01 điện thoại Nokia 1280 màu xanh, số serial: 351949057572561, bên trong chứa thẻ sim, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra đánh giá chất lượng bên trong;

- 01 hộp bằng kim loại màu xanh loại hộp đựng kẹo cao xu, có chữ DOUBLEMINT; 01 hộp nhựa hình tròn màu tím đường kính khoảng 3cm; 01 phong bì lì xì bên trong chứa 15 mảnh giấy nhỏ màu trắng kích thước khoảng 3cm x 3cm; 02 xi lanh; 02 lọ nước Novocaine chưa sử dụng; 02 dao lam loại Croma đã qua sử dụng, tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Tịch thu sung vào công quĩ nhà nước 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) là số tiền do bị cáo phạm tội mà có.

- Trả lại cho Nguyễn Hữu Tuấn (là nhân chứng trong vụ án) 01 điện thoại sam sung màu trắng, modedel GT- C3303K, bên trong có một thẻ sim, máy bị vỡ bên hông phải, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra đánh giá chất lượng bên trong;

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hữu H, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ