- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kha Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Kha Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HS-ST Ngày 15/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mong Thái Dương.
2. Ông Lô Văn Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Nhuần, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà:
Bà Lang Thị Ngọc Tr, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 08/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Kha Văn K : Tên gọi khác: Không; sinh năm 1984, tại huyện K, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản X, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên trồng trọt; trình độ văn hóa : Không học; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Kha Văn C; con bà Mong Thị L; vợ: Chưa có; con có 04 người; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2018. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Kha Văn K: Bà Nguyễn Thị T, Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/11/2018 Mong Văn B trú tại bản Chà L, xã Mai S, huyện T, tỉnh Nghệ An và Kha Văn K rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng. B chở K đến xã Tri Lễ huyện Q. Khi đến nơi mỗi người mua 200.000 đồng ma túy rồi cùng nhau đi về; khi về đến khu vực bản Pà Khốm, xã Tri Lễ thì bị phát hiện. Mong Văn B chạy trốn vào rừng; còn Kha Văn K bị bắt quả tang. Thu giữ của Kha Văn K 01 gói chất bột màu trắng; 02 chiếc điện thoại di động; thu của Mong Văn B 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 37K-003.98.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q qua xác định trọng lượng gói chất bột màu trắng thu giữ của Kha Văn K có khối lượng 0,7 gam.
Bản kết luận giám định số 1201/KL- PC09(MT) ngày 16/11/2018 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Kha Văn K gửi tới giám định là Heroin và có khối lượng 0,7 gam (Không phẩy bảy gam).
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Kha Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Ngày 12/11/2018 tại khu vực bản Pà Khốm, xã Tri Lễ, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Kha Văn K đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang, thu giữ một gói Heroin có khối lượng 0,7 gam. Mục đích bị cáo cất giấu ma túy là để sử dụng.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKS- QP ngày 20/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Kha Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý. Đối với Mong Văn B theo lời khai của K có hành vi đi với K mua trái phép chất ma túy, nhưng hiện nay B không có mặt tại địa phương, nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Khi nào điều tra đủ căn cứ sẽ xem xét và xử lý bằng một vụ án khác.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Kha Văn K từ 12 đến 18 tháng tù.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; trả lại cho bị cáo 02 chiếc điện thoại di động; chuyển lại cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q chiếc xe máy để xử lý bằng một vụ án khác; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 12 tháng tù.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử, kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng vào lúc 15 giờ 30 phút, ngày 12/11/2018 tại khu vực bản Pà Khốm, xã Tri Lễ, huyện Q, tỉnh Nghệ An, bị cáo Kha Văn K đang cất giấu trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu của bị cáo 0,7 gam Heroin. Bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Kha Văn K từ 12 đến 18 tháng tù. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là hợp lý.
Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo Kha Văn K 12 tháng tù. Đề nghị của người bào chữa là thấp so với số lượng ma túy bị thu giữ.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 0,7 gam Heroin. Cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 0,25, còn lại 0,45 gam; đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với chiếc xe máy không phải vật chứng trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà là vật chứng trong vụ án “Trộm cắp tài sản” nên cần chuyển lại cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Kha Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Phạt Kha Văn K 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/11/2018.
Căn cứ vào điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,45 gam (Không phẩy bốn mươi lăm gam) Heroin thu giữ của bị cáo Kha Văn K. Trả lại cho bị cáo Kha Văn K 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA mà đen; chuyển trả lại cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 37K-003.98.
Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 13/02/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Kha Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Kha Văn K có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo. - VKSND huyện Q. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Q. - Chi cục THA DS huyện Q. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã Mỹ Lý. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |