- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, khoản 1, 2 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ TĨNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HS-ST Ngày 18-7-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Đăng Ký
- Ông Nguyễn Hồng Quân
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Đông - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lượng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2019/TLST-HS, ngày 05 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
LÊ VĂN H - Giới tính: Nam - Tên gọi khác: Không Sinh ngày 07 tháng 02 năm 1998 tại: Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do - Trình độ học vấn: Lớp 9/12 Nơi ĐKHKTT: Thôn B, XĐ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Con ông: Lê H1 D,
Sinh năm; 1966
Con bà: Ngô Thị H,
Sinh năm: 1971
Họ tên vợ: Trần Thị A, Sinh năm: 1999 Con Ch 01 đứa sinh năm 2018 Anh, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 03. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 21/3/2019 đến nay. “có mặt”
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Hoàng Văn Ch – Sinh năm 1997, Nghề nghiệp: Lao động tự do
Trú tại: Thôn H, XH, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; (Có mặt)
2. Trần Văn H1 - Sinh năm 1997, Nghề nghiệp: Lao động tự do
Trú tại: Thôn A, XPh, Nghi Xuân, Hà Tĩnh (Có mặt)
3. Lê Hải D - Sinh năm 1966, Nghề nghiệp: Lao động tự do
Trú tại: Thôn B, xã XĐ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh (Có mặt)
4. Lê Văn H – Sinh năm 1994; Trú tại: Thôn B, xã XĐ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
5. Lê Thị H – Sinh năm 1992; Trú tại: Thôn B, xã XĐ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
- Người làm chứng:
1. Thạch Hữu A – Sinh năm 1966; Nơi cư trú: Xã XĐ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Công an xã “ vắng mặt”
2. Trần Đức Th – Sinh năm 1969; Nơi cư trú: Xã XĐ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Công an xã “ Có mặt”
3. Lê Thị L – Sinh năm 1953; Nơi cư trú: Xã XĐ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Bí thư xóm “ vắng mặt”
4. Trần Thị Ng – Sinh năm 1969; Nơi cư trú: Xã XĐ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do “ vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 21/03/2019, Công an huyện Nghi Xuân kiểm tra tình hình sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có một số đối tượng tụ tập nghi vấn tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy tại Nhà ông Lê Hải D. Khi phát hiện thấy lực lượng Công an, Lê Văn H chạy từ vườn hoa lan đến gần bờ tường rào phía tây và có hành động vung tay về phía bờ tường rào phía trước như ném một vật gì đó qua bờ rào rồi định bỏ chạy thì bị lực lượng Công an khống chế cùng với Hoàng Văn Ch và Trần Văn H1 là bạn của Lê Văn H đến chơi. Khi kiểm tra khu vực xung quanh gần nơi bị cáo đứng thu giữ tại mép trên bờ tường rào phía sau nhà chính 01 (một) gói ni lông màu trắng kích thước (04x06) cm, trong hốc tường rào phía sau nhà chính một vỏ bao đựng mì tôm nhãn hiệu Ômachi màu đỏ sẫm bên trong đựng 02 (hai) gói ni lông màu trắng kích thước (04x06) cm; bên trong ba gói ni lông này đều có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể; ở sân vườn hoa lan có một chai nước cao 20cm, vỏ chai có chữ Uniaqua, nắp chai màu xanh có gắn một ống nhựa màu trắng dài 20cm, một ống thủy tinh dài 13cm là dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Sau khi tiến hành khám người Lê Văn H thu giữ trong túi quần màu đen bên phải H đang mặc một gói ni lông màu xanh bên trong đựng 77 viên nén màu hồng, trên mỗi viên nén đều có chữ WY và 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) Việt Nam; thu giữ trong túi quần bên trái 20.000 đồng (hai mươi ngàn đồng)Việt Nam, một máy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen. Kiểm tra người Trần Văn H1 thu giữ trong ốp lưng máy điện thoại di động của H1 một gói ni lông màu trắng kích thước (01x02) cm, bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể. Kiểm tra người Ch không phát hiện gì. Lực lượng Công an đã lập biên bản ghi nhận nội dung sự việc, niêm phong các đồ vật có liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc. Quá trình lập biên bản, Lê Văn H không ký vào biên bản sự việc, biên bản khám người và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ.
Cùng ngày, Công an huyện Nghi Xuân đưa các đối tượng đến Bệnh viện đa khoa huyện Nghi Xuân để tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu. Kết quả Lê Văn Hoàn, Hoàng Văn Ch và Trần Văn H1 đều dương tính với ma túy đá trong nước tiểu. Tại cơ quan điều tra H, Ch và H1 thừa nhận đã sử dụng ma túy, nên kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của cả ba người dương tính với ma túy đá.
Trần Văn H1 còn khai nhận gói ni lông màu trắng mà lực lượng Công an phát hiện, thu giữ trong ốp phía sau điện thoại của H1 là ma túy do H đưa cho H1 cất giữ để cùng sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
Tại cơ quan điều tra, lời khai của Lê Văn H không thống nhất, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo khai nhận túi ni lông màu xanh kích thước (06x08)cm bên trong có chứa 77 (bảy mươi bảy) viên nén màu hồng, hình tròn, trên bề mặt mỗi viên nén có chữ WY mà cơ quan Công an phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải của H đó là hồng phiến, được H mua của một người không quen biết ở thành phố Vinh, Nghệ An vào trưa ngày 20/3/2019 về để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện thu giữ. Số ma túy còn lại thu tại bờ rào H không thừa nhận, không biết của ai và thu ở đâu, kể cả số ma túy thu giữ từ Trần Văn H1.
Tại kết luận giám định số 75/GĐMT-PC09 ngày 22/03/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận:
- Chất rắn màu trắng dạng tinh thể và viên nén màu hồng hình tròn thu giữ tại bờ rào nhà ông Lê Hải D và bị cáo gửi giám định là ma túy Methamphetamine.
Vật chứng vụ án:
- 26,1583g (hai sáu phẩy một năm tám ba gam) Methamphetamine thu giữ trên bờ tường rào và trong hốc bờ tường rào nhà Lê Hải D sau khi lấy mẫu giám định còn lại 25,9883 (hai lăm phẩy chín tám tám ba gam);
7,5613g (bảy phẩy năm sáu một ba gam) Methamphetamine thu giữ trong túi quần bên pH1 của Lê Văn H sau khi lấy mẫu giám định còn lại 7,2713g (bảy phẩy hai bảy một ba gam);
0,0630g (không phẩy không sáu ba không gam) Methamphetamine thu giữ trong ốp điện thoại phía sau của Trần Văn H1 đã lấy mẫu giám định hết. Tất cả được cho vào một phong bì thư rồi dán kín, trên mép dán có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong.
- 01 (một) chiếc điện thoại SAM SUNG màu đen, bên gốc dưới bên trái có vết nứt, vỡ, máy đã qua sử dụng, có gắn sim số thuê bao 0339.144.113 thu giữ của Lê Văn H.
- 01 (một) chiếc điện thoại Iphone màu vàng, vỏ ốp lưng màu đỏ, máy đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn H1.
- Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 520.000 đồng (năm trăm hai mươi nghìn đồng), gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) thu giữ của Lê Văn H
- 01(một) chai nhựa cao 20cm, vỏ chai có chữ Uniaqua, nắp chai màu xanh có gắn một ống nhựa màu trắng dài 20cm và một ống thủy tinh dài 13cm.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo. Lời khai của Trần Văn H1 về số ma túy thu giữ sau ốp lưng điện thoại do bị cáo đưa cho để sử dụng nhưng bị cáo không thừa nhận, H1 không có chứng cứ chứng minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân giữ nguyên nội dung cáo trạng số 23/CT-VKSNX, ngày 04/6/2019 đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS.
Xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù, tính từ ngày 21/3/2019.
Vật chứng là ma túy và chai nhựa dụng cụ sử dụng ma túy đá tịch thu tiêu hủy, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại samsung màu đen và 20.000 đồng; trả lại cho ông Lê H1 D 500.000 đồng; Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone có vỏ ốp lưng màu đỏ. Ngoài ra buộc bị cáo phải nộp án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Nghi Xuân; Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan, những người tiến hành tố tụng. Nên hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Phiên tòa vắng mặt người người làm chứng trong vụ án, xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử các bị cáo nên không cần thiết phải hoãn phiên tòa.
. Nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, HĐXX có đủ kết luận: Bị cáo Lê Văn H đã có hành vi tàng trữ Methamphetamin có khối lượng 7,5613g (bảy phẩy năm sáu một ba gam) trong túi quần đang mặc để sử dụng thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo vi phạm Luật hình sự.
Điều 249 BLHS quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy …, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine ….có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;…”
Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, đối chiếu các quy định pháp luật thì Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, biết ma túy là chất kích thích nguy hiểm nhưng cố ý tàng trữ, sử dụng là nguyên nhân của các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và phòng ngừa chung, HĐXX cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp.
Quá trình điều tra, bị cáo không nhận tội nhưng tại phiên tòa bị cáo nhận thức hành vi vi phạm của mình thành khẩn khai báo, số lượng ma túy bị cáo tàng trữ trong người gần mức khởi điểm, phạm tội lần đầu nên khi áp dụng hình phạt cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Vật chứng không có giá trị, vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; vật chứng là công cụ, phương tiện cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; vật chứng là tài sản không liên quan đến tội phạm trả lại cho bị cáo hoặc chủ sở hữu hợp pháp. Tại phiên tòa, Trần Văn H1 xin lại điện thoại Iphone đã bị thu giữ, nhưng HĐXX không chấp nhận, bởi lẽ vỏ ốp và điện thoại tuy được cấu thành hai bộ phận nhưng không tách rời nhau và dùng để cất dấu ma túy sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
Trong vụ án Hoàng Văn Ch và Trần Văn H1 có hành vi sử dụng trái phép ma túy cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Số ma túy thu giữ tại bờ rào gia đình và gói ma túy thu giữ trong túi quần H không xác định được có sự liên quan đến Lê Hải D, Lê Thị H, Lê Văn H và Trần Thị A là các thành viên trong gia đình của H nên không xem xét xử lý.
Quá trình điều tra không làm rõ được Lê Văn H có liên quan khối lượng 26,1583g (hai sáu phẩy một năm tám ba gam) Methamphetamine. Kiến nghị Cơ quan điều tra công an huyện Nghi Xuân tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, mức hình phạt và các nội dung khác trong vụ án là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Bị cáo Hoàn chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, khoản 1, 2 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Điểm a, c khoản 2 điều 106, khoản 2 Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Khoản 1 điều 21, ®iÓm a khoản 1 điều 23, mục 1.I danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[2]. Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3].Về hình phạt:
Xử phạt Lê Văn H 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2019.
[4]. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
26,1583g (hai sáu phẩy một năm tám ba gam) Methamphetamine thu giữ trên bờ tường rào và trong hốc bờ tường rào nhà Lê Hải D sau khi lấy mẫu giám định còn lại 25,9883 (hai lăm phẩy chín tám tám ba gam);
7,5613g (bảy phẩy năm sáu một ba gam) Methamphetamine thu giữ trong túi quần bên phải của Lê Văn H sau khi lấy mẫu giám định còn lại 7,2713g (bảy phẩy hai bảy một ba gam);
0,0630g (không phẩy không sáu ba không gam) Methamphetamine thu giữ trong ốp điện thoại của Trần Văn H1 đã lấy mẫu giám định hết. Tất cả được cho vào một phong bì thư rồi dán kín, trên mép dán có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong.
01(một) chai nhựa cao 20 cm, vỏ chai có chữ Uniaqua, nắp chai màu xanh có gắn một ống nhựa màu trắng dài 20 cm và một ống thủy tinh dài 13 cm.
Trả lại cho Lê Văn H:
01 (một) chiếc điện thoại SAM SUNG màu đen, bên gốc dưới bên trái có vết nứt, vỡ, máy đã qua sử dụng, có gắn sim số thuê bao 0339.144.113 và 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước:
01 (một) chiếc điện thoại Iphone màu vàng, vỏ ốp lưng màu đỏ, máy đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn H1.
Trả lại cho ông Lê Hải D: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) thu giữ từ Lê Văn H.
(Đặc điểm, số lượng vật chứng sau khi trích ra giám định có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2019 tại Cơ quan Thi hành án dân dự huyện Nghi Xuân).
[5]. Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo, người LQ; - Công an huyện Nghi Xuân; - VKSND, THADS huyện Nghi Xuân; - VKSND, TAND tỉnh Hà Tĩnh. - TANDCC; Lưu HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ, ĐÓNG DẤU) Phạm Huy Bình |