- Tranh chấp gì? án hình sự — "giao cấu - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/HS-ST Ngày: 27-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Quang Kim Cúc - Nghề nghiệp: Nguyên là giáo viên, nguyên Phó Phòng GD-ĐT huyện Lai Vung, hiện đã về hưu.
Ông Nguyễn Phát Triển - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Phan Bích Liễu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2019/TLST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Quang Đ, sinh năm: 1998, tại: Đồng Tháp; Nơi cư trú: 281/6, ấp T M, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Ngọc D; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại 281/6, ấp T M, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
Huỳnh Phúc Thảo V - sinh ngày: 01/5/2004 (có mặt); nơi cư trú: 105B K 1, P 4, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Phúc Thảo V:
1. Huỳnh Ngọc P - sinh năm: 1978 (cha ruột) (có mặt); nơi cư trú: 105B K 1, P 4, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
2. Huỳnh Thị Thu T - sinh năm: 1980 (mẹ ruột) (có mặt); nơi cư trú: ấp T H, xã H T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Huỳnh Phúc Thảo V: Trợ giúp viên pháp lý: Ông Hà Văn N - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đồng Tháp, Chi nhánh số 1 (có mặt).
Địa chỉ: 466 đường N S S, K 5, P1, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Huỳnh Thị Bích N - sinh năm: 1974 (chủ nhà trọ P V) (vắng mặt); nơi cư trú: 70/1, ấp L T, xã L H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
2. Trương Hoài N - sinh năm: 1996 (vắng mặt); nơi cư trú: 28 Lô E KDC ấp T L B, xã T D, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
3. Nguyễn Thị Tố N - sinh năm: 1993 (vắng mặt); nơi cư trú: 29, ấp L T, xã H L, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
4. Lê Hoàng T - sinh năm: 1998 (có mặt); nơi cư trú: 280C/6, ấp T M, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:
Vào năm 2017, Nguyễn Quang Đ kết bạn Zalo với Huỳnh Phúc Thảo V. Đến khoảng 09 giờ ngày 20 tháng 3 năm 2019, V chủ động nhắn tin rủ Đ đi chơi và hẹn Đ 13 giờ cùng ngày đến cầu chợ Hòa Thành để rước V. Đến 13 giờ Đ điều khiển xe Exiter, nhãn hiệu: Yamaha màu trắng-đỏ, biển số: 66C1-307.43 từ nhà của Đ đến rướt V. Sau đó Đ chở V đến quán A P ở thị trấn L V, huyện Lai Vung và rủ thêm Nguyễn Thị Tố N và Lê Hoàng T; V thì rủ Đỗ Yến L và Trương Hoài N để ăn lẩu và uống bia. Đến 16 giờ cùng ngày thì tất cả đi hát Karaoke, đến 17 giờ 30 phút thì cả nhóm nghỉ hát và tất cả về nhà, Đ thì đưa V về, khi đến cầu D H trên quốc lộ 80, V sợ bị ba mẹ la rầy nên kêu Đ tìm chổ ngủ sáng về nhà. Đ chở V quay lại thị trấn L V, mua cho V 02 bộ đồ ngủ rồi chở V đến nhà trọ P V tại số 254 E K 2, thị trấn L V, huyện Lai Vung thuê phòng số 06 để ngủ. Đến 22 giờ Đ và V thức giấc, Đ nói với V “cho anh làm cái nhe” thì V nói “chút thôi nhe”; khi đó Đ lấy bao cao su mang vào dương vật rồi cởi quần ngoài và quần lót của V ra rồi thực hiện hành vi giao cấu với V 01 lần khoảng 05 phút thì Đ xuất tinh vào bao cao su, Đ lấy bao cao su bỏ vào sọt rác ở nhà vệ sinh trong phòng trọ số 06. Đến khoảng 08 giờ ngày 21 tháng 3 năm 2019, Đ chở V đến gặp Nguyễn Thị Tố N và nhờ N đưa V về nhà của V dùm. Khi về đến nhà thì bà Huỳnh Thị Thu Thảo (mẹ của V) hỏi đêm qua đi đâu và làm gì thì V trình bày đêm qua ngủ nhà trọ và cùng Đ thực hiện hành vi giao cấu, nên bà T đến Công an tố giác Nguyễn Quang Đ.
Cơ quan điều tra thu giữ tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án như sau:
Thu giữ của Nguyễn Quang Đ: 01 điện thoại di động vỏ màu trắng có chữ OPPO, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu xanh-đen, có chữ mooomo,số IMEI1: 863897036121452; số IMEI2: 863897036121445; 01 cái áo thun tay dày màu xanh, trên áo có chữ HM màu trắng; 01 cái quần jean lửng màu đen; 01 cái quần lót màu đen-xám, trên quần có chữ Calvin Klein màu đỏ.
Thu giữ của Huỳnh Phúc Thảo V: 01 áo vải màu vàng cam; 01 quần dài bằng vải thun màu đen; 01 cái áo khoác bằng vải, màu xám, trên ngực và lưng áo có in hình chuột Micky; 01 cái áo ngủ bằng vải coton, loại ngắn tay màu vàng nhạt; 01 quần vải màu coton, quần lửng màu vàng nhạt; 01 áo ngực màu da người; 01 quần lót màu da người.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 18/TD-TTPY ngày 21/3/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp đối với Huỳnh Phúc Thảo V, kết luận như sau: Âm hộ không tổn thương, màng trinh dãn, rách vị trí 06 giờ, 03 giờ.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS, ngày 23/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Nguyễn Quang Đ ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Quang Đ khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Bị cáo yêu cầu Đ nhận lại toàn bộ quần áo và 01 điện thoại di động màu trắng có chữ OPPO mà hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang giữ.
- Bị hại Huỳnh Phúc Thảo V trình bày: năm 2017 có quen với Đ thông qua mạng xã hội Zalo, ngày 20/3/2019, V có nhắn tin rủ Đ đi chơi và kêu Đ đến chợ H T rước V. Đ chở V đến quán A P thuộc thị trấn L V để ăn, uống bia cùng vài người bạn, ăn xong đi hát karaoke, hát xong Đ đưa V về nhà, trên đường về nhà V không chịu về sợ cha mẹ la, nên kêu Đ tìm chỗ ngủ sáng về và sau đó cả 2 ngủ qua đêm tại nhà trọ P V, tại nhà trọ thì Đ đã giao cấu với V 01 lần. Hiện nay V và gia đình đã nhận 20.000.000 đồng tiền bồi thường từ bị cáo Đ, nay không yêu cầu bồi thường gì thêm, yêu cầu Đ nhận lại toàn bộ quần áo mà hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang giữ và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Phúc Thảo V là ông Huỳnh Ngọc P và bà Huỳnh Thị Thu T cùng trình bày: ngày 20/3/2019, V đi chơi với Đ gia đình không hay biết, đến sáng ngày 21/3/2019 thì bạn V đưa V về nhà, khi về nhà hỏi V thì V nói là đã ngủ qua đêm và Đ đã giao cấu với V tại nhà trọ P V nên đã đến Cơ quan Công an tố giác hành vi của Đ; ông bà đã nhận 20.000.000 đồng tiền bồi thường từ bị cáo Đ, nay không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
- Người làm chứng Lê Hoàng Ttrình bày: Ngày 20/3/2019 Tcó nhậu với Đ, V và cùng nhóm bạn, khi nhậu xong thì đi hát karaoke, hát xong tất cả ra về, ngoài ra không biết gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố đúng như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nguyễn Quang Đ đã có hành vi 01 lần giao cấu với Huỳnh Phúc Thảo V, khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục toàn bộ hậu quả theo yêu cầu bị hại, bị hại và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Quang Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về phần trách nhiệm dân sự: đã thực hiện xong.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Trả cho Nguyễn Quang Đ: 01 điện thoại di động vỏ màu trắng có chữ OPPO, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu xanh-đen, có chữ mooomo,số IMEI1: 863897036121452; số IMEI2: 863897036121445; 01 cái áo thun tay dày màu xanh, trên áo có chữ HM màu trắng; 01 cái quần jean lửng màu đen; 01 cái quần lót màu đen-xám, trên quần có chữ Calvin Klein màu đỏ.
- Trả cho Huỳnh Phúc Thảo V: 01 áo vải màu vàng cam; 01 quần dài bằng vải thun màu đen; 01 cái áo khoác bằng vải, màu xám, trên ngực và lưng áo có in hình chuột Micky; 01 cái áo ngủ bằng vải coton, loại ngắn tay màu vàng nhạt; 01 quần vải màu coton, quần lửng màu vàng nhạt; 01 áo ngực màu da người; 01 quần lót màu da người.
(Hiện vật chứng và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Văn N phát biểu quan điểm: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên, thống nhất lời trình bày của bị hại và người đại diện của bị hại và không có ý kiến phát biểu hay tranh luận gì thêm.
Bị cáo Nguyễn Quang Đ thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm Đ trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Quang Đ đã có hành vi giao cấu với Huỳnh Phúc Thảo V 01 lần. Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật đồng thời biết rõ bị hại Huỳnh Phúc Thảo V chưa đủ 16 tuổi nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi giao cấu với bị hại Thảo V, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, cho nên hành vi của bị cáo Nguyễn Quang Đ có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” phạm vào khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. … …”.
Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang Đ là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, kỷ cương pháp luật bị xâm hại, xâm phạm đến danh dự và nhân phẩm của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển về tinh thần và thể chất của Huỳnh Phúc Thảo V, vi phạm nếp sống lành mạnh, văn minh của xã hội, vì muốn thỏa mãn dục vọng và lợi dụng sự nhẹ dạ của Huỳnh Phúc Thảo V, bị cáo Đ bất chấp dư luận, cố ý thực hiện hành vi giao cấu với trẻ em, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm mục đích giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội, cũng qua phiên toà này cũng cần nghiêm khắc phê phán những bậc làm cha mẹ thiếu sự quan tâm chăm sóc đối với con cái, nhất là các cháu gái, đó là điều kiện dẫn đến sự đáng tiếc như vụ án này. Xét tính chất, mức độ, ý thức và hậu quả phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung cho những ai có tư tưởng như bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo Nguyễn Quang Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại cùng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là tình tiết giảm nhẹ Đ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
Về xử lý vật chứng:
Bị cáo và bị hại yêu cầu Đ nhận lại vật chứng là tất cả tài sản mà hiện nay Chi cục thi hành án dân sự đang quản lý là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận cụ thể như:
- Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Quang Đ: 01 (một) điện thoại di động vỏ màu trắng có chữ OPPO, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu xanh-đen, có chữ mooomo,số IMEI1: 863897036121452; số IMEI2: 863897036121445 (đã niêm phong); 01 (một) cái áo thun tay dày màu xanh, trên áo có chữ HM màu trắng; 01 (một) cái quần jean lửng màu đen; 01 (một) cái quần lót màu đen-xám, trên quần có chữ Calvin KLein màu đỏ.
- Hoàn trả cho Huỳnh Phúc Thảo V: 01 (một) áo vải màu vàng cam; 01 (một) quần dài bằng vải thun màu đen; 01 (một) cái áo khoác bằng vải, màu xám, trên ngực và lưng áo có in hình chuột Michky; 01 (một) áo ngủ bằng vải coton, loại ngắn tay màu vàng nhạt; 01 (một) quần vải coton, quần lửng màu vàng nhạt; 01 (một) áo ngực màu da người; 01 (một) quần lót màu da người.
(Hiện vật chứng và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong, không ai yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Đ quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
- Trả cho bị cáo Nguyễn Quang Đ: 01 (một) điện thoại di động vỏ màu trắng có chữ OPPO, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu xanh-đen, có chữ mooomo,số IMEI1: 863897036121452; số IMEI2: 863897036121445 (đã niêm phong); 01 (một) cái áo thun tay dày màu xanh, trên áo có chữ HM màu trắng; 01 (một) cái quần jean lửng màu đen; 01 (một) cái quần lót màu đen-xám, trên quần có chữ Calvin KLein màu đỏ.
- Trả cho Huỳnh Phúc Thảo V: 01 (một) áo vải màu vàng cam; 01 (một) quần dài bằng vải thun màu đen; 01 (một) cái áo khoác bằng vải, màu xám, trên ngực và lưng áo có in hình chuột Michky; 01 (một) áo ngủ bằng vải coton, loại ngắn tay màu vàng nhạt; 01 (một) quần vải coton, quần lửng màu vàng nhạt; 01 (một) áo ngực màu da người; 01 (một) quần lót màu da người.
(Hiện vật chứng và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Quang Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Đ kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/8/2019.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - VKSND H.Lai Vung; - CCTHA-DS H.Lai Vung; - Cơ quan điều tra H. Lai Vung; - Cơ quan THAHS H. Lai Vung; - Sở tư pháp; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Út |