vanban.org

Bản án 26/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 22/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Đánh bạc”.

Phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 04 (bốn) tháng tù,thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2018 đến 31/12/2018. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có model RM – 1190, Imei 357325081780819 và số tiền 4.319.000 đồng. Tịc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc K - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2019/HS-ST
Ngày22-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đỗ Ngọc Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Tiền

Bà Phạm Thị Nhâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2019tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số: 19/2019/TLST-HS ngày16 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc K, sinhnăm: 1980,tạihuyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp T T A, thị trấn HB, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1949 và bà Đặng Hồng D, sinh năm: 1951; Vợ: Trần Thị N, sinh năm 1979; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/12/2018 đến 31/12/2018 cho tại ngoại(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ đầu năm 2018, bị cáo Nguyễn Quốc K thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, gồm số đầu, số đuôi, số lô 02 con và số đá; tỷ lệ thắng thua số đầu, số đuôi, số lô là 1/80 và số đá là 1/600, số đá vòng 4 người là 1/3600. K nhận số qua gọi điện và tin nhắn, sau khi nhận số của người chơi, bị cáo K giao lại cho người tên T để hưởng hoa hồng.Đến ngày 27/12/2018, bị cáo K ghi số đề tại ấp 5, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu thì bị bắt quả tang. Thu giữ: 01 điện thoại Nokia màu đen và sim số 0943.529.030, 01 quyển sổ tay, 01 tờ giấy gói thuốc Jet, 01 xe biển số 94K1-536.70 và 4.319.000 đồng. Qua kiểm tra, phơi đề ghi trên tờ giấy thuốc Jet, bị cáo K ghi ngày 27/12/2018, đài Miền Bắc đã nhận tiền ghi số đề của bà N 1.741.000 đồng; phơi đề ghi qua tin nhắn bị cáo K ghi ngày 27/12/2018, đài Miền Bắc đã nhận tiền ghi số đề của ông D 2.760.000 đồng, ông Tuấn M 855.000 đồng, bà O 690.000 đồng, ông Tuấn B 322.000 đồng, bà N2 7.650.000 đồng, bà Trần Thị Nh 372.000 đồng, ông Trần Văn N3 169.000 đồng.Tổng số tiền đánh bạc là 14.559.000 đồng. Đối với phơi số ghi tại quyển sổ tay, bị cáo K không xác định được ngày và một phơi hay nhiều phơi.

Tại phiên tòa bị cáo K khai nhận hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng đã truy tố

Bản cáo trạng số 18/CT-VKS-KSĐT ngày 13/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hànhquyền công tố luận tội: giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộluật hình sự: phạt bị cáo Nguyễn Quốc K từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 tịch thu tiêu hủy thẻ sim số 0943.529.030 và tịch thu sung quỹ số tiền 4.319.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có model RM – 1190, Imei 357325081780819.

Bị cáokhông có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện ĐH, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Quốc K ghi đề ngày 27/12/2018, đài Miền Bắc,số tiền dùng đánh bạc là 14.559.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng,không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, mà kéo theo nhiều tội phạm khác, đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, điều luật quy định khung phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc K đã thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ông Nguyễn Văn V là cha ruột của bị cáo được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, bà nội của bị cáo cũng được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào các tình tiết trên xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên vềáp dụng tình tiết giảm nhẹ tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Tuy nhiên xét về tình hình tệ nạn xã hội gia tăng, cách thức thực hiện tinh vi, rất khó để phát hiện xử lý và kéo theo nhiều tội phạm và hệ lụy xã hội khác; tại phiên tòa bị cáo khai nhận trước khi thực hiện hành vi bán số đề thì bản thân bị cáo có tham gia đánh bạc với hình thức đánh bài dẫn đến có nhiều khoản nợ không đủ tiền chi trả, do đó bị cáo bán số đề để có tiền chi trả nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, từ trong nhận thức bị cáo biết được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng lại trượt dài trong suy nghĩ và hành động, bị cáo không chỉ tham gia đánh bạc với hình thức đánh bài thắng thua bằng tiền dẫn đến nợ nần mà còn chuyển sang đánh bạc với hình thức bán số đề cho nhiều người khác tham gia. Do đó việc xem xét cho bị cáo hưởng án treo là chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với Trần Thị Nh Trần Văn N3: số tiềnđánh bạc dưới 5.000.000 đồng và nhân thân không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, do đó không cấu thành tội phạm.

Đối với người tên T, N, N2, O, D, Tuấn M, Tuấn B chưa xác định được nhân thân, chưa có căn cứ xử lý là đúng pháp luật.

Đối với Trần Thị Ng: không biết việc bị cáo Nguyễn Quốc K ghi số đề nên không xử lý là đúng pháp luật.

Đối với Phạm Thị L: không liên quan việc bị cáo Nguyễn Quốc K ghi số đề nên không xem xét xử lý là đúng pháp luật.

Về vật chứng: quá trình điều tra trả xe mô tô biển số 94K1-536.70 cho chủ sở hữu là đúng pháp luật. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có model RM – 1190, Imei 357325081780819 và số tiền 4.319.000 đồng là công cụ dùng vào việc phạm tội và khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với thẻ sim số 0943.529.030 cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc Kphải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểmi, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1, 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 04 (bốn) tháng tù,thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2018 đến 31/12/2018.

2. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có model RM – 1190, Imei 357325081780819 và số tiền 4.319.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy thẻ sim số 0943.529.030. (Vật chứng đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện ĐH theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2019)

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ