vanban.org

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’ G Êban.

Về quan hệ hôn nhân: chị H’G Êban được ly hôn anh Y Th Niê. Về nuôi con chung: Giao con chung Y’ Q Êban, sinh ngày 29/5/2004 cho chị H’ G Êban trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên ( đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn chị H G Êban và bị đơn anh Y Th Niê"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’ G Êban.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2019/HNGĐ- ST
Ngày: 21-3-2019
V/v Ly hôn và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Oanh và bà Nguyễn Thị Tú Oanh

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột không tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 819/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2018 về ly hôn và nuôi con chung; Theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số : 22/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 và Quyết đi ̣nh hoan phiên tõ

̀a số : 21/2019/QĐHPT ngày 06/3/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị H’G Êban, sinh năm 1980 ( Có mặt)

Địa chỉ: Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Anh Y Th Niê, sinh năm 1970 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị H’G Êban trình bày:

Chị H’G Êban và anh Y Th Niê tự nguyện chung sống từ năm 1999 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk vào ngày 23/4/1999.

Quá trình sống chung đến khoảng năm 2012 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, anh Y Th không lo làm ăn, không quan tâm, chăm sóc vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên chị H' G Êban có nguyện vọng xin được ly hôn với anh Y Th Niê.

Về con chung: Chị H’G và anh Y’Th có 02 con chung là cháu H’ Q Êban, sinh ngày 06/9/1999 và cháu Y B Êban, sinh ngày 29/5/2004, hiện nay các con chung đang ở với chị H’G Êban. Chị H’G Êban có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Y’B Êban đến tuổi thành niên còn cháu H’Q Êban đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, hiện nay chị H’G Êban làm nông cùng gia đình, thu nhập đảm bảo để nuôi con nên không yêu cầu anh Y Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Y Th Niê đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa đương sự có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn anh Y Th Niê cư trú tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, anh Y Th vắng mặt là lần thứ hai, do đó Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử yêu cầu khởi kiện của chị H’G Êban là phù hợp theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của chị H’G Êban xin ly hôn Y Th Niê, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H’G Êban và anh Y Th Niê tự nguyện chung sống từ năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk vào ngày 23/4/1999 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của đương sự; theo chị H’G trình bày quá trình duy trì hôn nhân giữa chị và anh Y Th thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, anh Y Th không lo làm ăn, không quan tâm, chăm sóc vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay, không ai quan tâm chăm sóc ai;

Kết quả xác minh tại địa phương xác định: Chị H’G Êban và anh Y Th Niê kết hôn với nhau năm 1999, quá trình chung sống do anh Y Th hay nhậu nhẹt nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vã, đã được địa phương hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và hiện nay các con chung đang do chị H’ G trực tiếp nuôi dưỡng.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Y Th Niê vắng mặt không có lý do nên không lấy được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng Chị H’G Êban và anh Y Th Niê đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn anh Y Th của chị H’ Guen là phù hợp theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

-Về con chung: Chị H’G và anh Y Th có 02 con chung là cháu H’ Q Êban, sinh ngày 06/9/1999 và cháu Y’ B Êban, sinh ngày 29/5/2004. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay cháu H’ Q Êban đã trưởng thành nên việc ở với ai do cháu tự quyết định, còn cháu Y’B Êban, sinh ngày 29/5/2004 đang do chị H’G trực tiếp nuôi dưỡng từ ngày anh Y Th và chị H’ G sống ly thân đến nay, chị H’G làm nông cùng với gia đình có thu nhập, đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung, con chung cũng có nguyện vọng xin được ở với chị H’G nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung và để ổn định cuộc sống của cháu cần giao con chung là cháu Y’ B Êban cho chị H’ G tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; anh Y Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị H’ G Êban không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung : Chị H’G không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết .

Về án phí: Nguyên đơn chị H’G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 220; Điều 235; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’ G Êban.

- Về quan hệ hôn nhân: chị H’G Êban được ly hôn anh Y Th Niê.

-Về nuôi con chung: Giao con chung Y’ Q Êban, sinh ngày 29/5/2004 cho chị H’ G Êban trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên ( đủ 18 tuổi).

Anh Y Th Niê có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’G Êban không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

-Về tài sản chung: Chị H’G Êban không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

-Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H’G Êban phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí chị H’G Êban đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0008135 ngày 21/9/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, Đắk Lắk.

Anh Y Th Niê không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án hợp lê ̣.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .

Cỡ chữ