vanban.org

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N được ly hôn với anh Đoàn Công L. Về con chung: Giao con chung Đoàn Gia Bảo L, sinh ngày 17/10/2014 cho chị Vũ Thị N trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không y… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị N và anh L"
  • Tòa quyết gì? Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 26 - 9 - 2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Nhòng.

Ông Vũ Đình Bảng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2019/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 23/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10/9/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 19XX; địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Đoàn Công L, sinh năm 19XX; địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị N trình bày: Chị N và anh Đoàn Công L tự nguyện xây dựng gia đình với nhau năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quang Phục, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 04/3/2015.

Quá trình chung sống: Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, mặt khác anh L lại mải chơi thiếu sự quan tâm chăm sóc đến gia đình nên vợ chồng thường xung đột với nhau. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, từ tháng 8 năm 2017 chị N đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị N xác nhận: Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Công L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đoàn Gia Bảo L, sinh ngày 17/10/2014. Ly hôn chị N nhận nuôi con chung, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, ra thông báo yêu cầu anh Đoàn Công L có ý kiến về việc chị N có yêu cầu ly hôn, nhưng anh L đều không thực hiện.

Tiến hành xác minh, kết quả cho thấy: Chị N và anh L tự nguện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn theo luật định, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, mặt khác anh L thiếu sự quan tâm đến gia đình nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Từ tháng 8 năm 2017, chị N đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Vũ Thị N được ly hôn với anh Đoàn Công L; giao con chung Đoàn Gia Bảo L, sinh ngày 17/10/2014 cho chị N nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con các bên tự thỏa thuận với nhau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị N có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Đoàn Công L có nơi cư trú tại: Thôn Khôi Vỹ Hạ, xã Quang Phục, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Bị đơn là anh Đoàn Công L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Vũ Thị N và anh Đoàn Công L tuân thủ đúng quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẫn giữa chị N và anh L đã trầm trọng, hai bên đã có thời gian dài sống ly thân và không thể đoàn tụ cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị N có yêu cầu được ly hôn với anh L. Căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Vũ Thị N được ly hôn với anh Đoàn Công L.

Về con chung: Chị N và anh L có 01 con chung là Đoàn Gia Bảo L, sinh ngày 17/10/2014, chị N yêu cầu được nuôi con. Xét, từ khi hai bên sống ly thân, chị N đã là người trực tiếp nuôi con, mặt khác chị N là người đang có việc làm, thu nhập. Do vậy việc giao con chung cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện chăm sóc nuôi dạy con và quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N; giao con chung Đoàn Gia Bảo L, sinh ngày 17/10/2014 cho chị N trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị N xin được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét cử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chị Vũ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 và khoản 2 Điều 227, 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N được ly hôn với anh Đoàn Công L.

- Về con chung: Giao con chung Đoàn Gia Bảo L, sinh ngày 17/10/2014 cho chị Vũ Thị N trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đ ng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này chị N đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011510 ngày 23 tháng 5 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Về quyền kháng cáo:

Chị Vũ Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Đoàn Công L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ