- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Anh S khởi kiện công ty V"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Ngọc S đối với Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2019/ DSST Ngày 16 tháng 8 năm 2019 V/v"Kiện đòi tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Cao Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hiền.
Bà Nguyễn Thị Mùi.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Việt Hưng - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 16 ngày 8 tháng 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2019/TLST-DS ngày 26 tháng 03 năm 2019 về việc: “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 684/2019/QĐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 754/2019/QĐST-DS ngày 23/7/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Dương Ngọc S - sinh năm 1958
Địa chỉ: khu 2, thị trấn H, huyện L, tỉnh P
Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thục B - sinh năm 1975
Địa chỉ: khu 2, thị trấn H, huyện L, tỉnh P
( Theo văn bản ủy quyền ngày 20/3/2019)
Bị đơn: Công Ty Cổ Phần Pin Ắc Qui V
Địa chỉ: khu 1, xã C, thành phố V, tỉnh P
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Hữu U - sinh năm 1962; Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: P111 Viện công nghệ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
( Bà B có mặt, ông U có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Trần Thục B trình bày:
Căn cứ vào hợp đồng vay vốn số 102/2015/HĐVV ngày 27/7/2015 được ký kết giữa ông Dương Ngọc S và Công ty cổ phần pin ắc quy V :
Số tiền công ty vay là 10.000.000đ (Mười triệu đồng)
Thời hạn vay: 05 tháng; thời hạn trả nợ là ngày 27/12/2015.
Lãi suất cho vay: 1,1%/ tháng.
Ngày 27/7/2015 ông Dương Ngọc S đã nộp số tiền vay vốn theo hợp đồng nói trên, số tiền 10.000.000đ theo phiếu thu số 239 ngày 27/7/2015. Phiếu thu này đã có đầy đủ chữ ký của những người có trách nhiệm trong công ty, là chứng từ hợp pháp, hợp lệ và đã được ghi vào mục đích bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trên bảng kê chi tiết số dư huy động vốn năm 2015, năm 2016 của Công ty có phản ánh số tiền huy động vốn mà Công ty còn nợ ông S nhưng không được công ty tính lãi như mọi người. Từ khi ông S cho công ty vay vốn, Công ty chưa thanh toán tiền lãi cho ông S. Ông S đã nhiều lần trực tiếp đề nghị Công ty thanh toán tiền vay vốn nhưng cho đến nay công ty không thanh toán.
Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xem xét buộc Công ty cổ phần Pin ắc quy V phải trả số tiền nợ gốc và tiền lãi vay (tính đến hết ngày 16/8/2019) cho ông Dương Ngọc S, cụ thể như sau:
- Nợ gốc: 10.000.000đ
- Nợ lãi: 3.320.917đ
Tổng cộng là: 13.320.917đ
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đào Hữu U có đơn xin vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 22/4/2019, ông Uyên trình bày:
Trong tháng 11/2015 Công ty cổ phần Pin ắc quy V xảy ra sự cố: Bà Trần Thục B nguyên trưởng phòng tài chính kế toán, ông Lê Văn Ch nguyên tổng giám đốc, bà Đặng Thị Thanh H nguyên phó phòng tài chính kế toán, ông Lương Ngọc S nguyên trưởng phòng kế hoạch vật tư Công ty cổ phần Pin - Ắc Quy V bị Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ khởi tố về việc “Mua bán trái phép hóa đơn”. Khi Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ vào khám xét, Công ty chỉ còn lại 7.572.000đ (Bảy triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tiền mặt trong két; Tiền mặt trong tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam chỉ còn lại tổng cộng 98.000.000đ (Chín mươi tám triệu đồng); Số công nợ (nợ ngân hàng, nợ tín dụng, nợ đối tác, nợ bảo hiểm xã hội, nợ thuế, nợ cá nhân ...) lên đến gần 58.000.000.000đ (Năm mươi tám tỷ đồng) dẫn đến Công ty rơi vào tình trạng phá sản, tài chính cạn kệt. Sau khi các ông, bà có tên trên bị khởi tố, ngày 08/12/2016 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ban hành cáo trạng số 45 và chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử đối với Trần Thục B, Lê Văn Ch, Đặng Thị Thanh Hvề tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “ Mua bán trái phép hóa đơn”.
Ngày 11/10/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ra bản án số 41/2017/HSST tuyên bố xử phạt:
- Trần Thục B 12 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 01 năm tù tội “ Mua bán trái phép hóa đơn”.
- Đặng Thị Thanh H 3 năm tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 08 tháng tù tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
- Lê Văn C 28 tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 08 tháng tù tội “ Mua bán trái phép hóa đơn”.
Sau ngày 03/11/2015, Ban tổng giám đốc mới lên điều hành công ty trong điều kiện tình hình tài chính của công ty can kiệt, sản xuất kinh doanh gặp muôn vàn khó khăn, không có tiền mua nguyên vật liệu để sản xuất. Mặt khác ban lãnh đạo kế nhiệm không được nhận bàn giao bất kỳ một tài liệu nào từ ban lãnh đạo tiền nhiệm.
Đối với việc ông Dương Ngọc S khởi kiện Công ty, Công ty có quan điểm như sau:
- Thứ nhất: Hiện tại Công ty cổ phần Pin Ắc quy V đang lưu giữ hợp đồng vay vốn số 102/2015/HĐVV giữa Công ty cổ phần pin ắc quy V và ông Dương Ngọc S. Phiếu thu có chữ ký của Ban lãnh đạo tiền nhiệm, không đóng dấu đỏ của công ty.
- Thứ hai: Số tiền ông Dương Ngọc S kiện Công ty cổ phần Pin Ắc quy V đều do ban lãnh đạo tiền nhiệm thu và chi. Ban lãnh đạo kế nhiệm không biết số tiền Ban lãnh đạo tiền nhiệm thu của ông Dương Ngọc S đã đi về đâu? nhưng hiện nay ban lãnh đạo tiền nhiệm lại đi vận động ông Dương Ngọc S khởi kiện công ty?
Từ những lý do trên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình giải quyết kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, đại diện theo pháp luật của bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 305, 471, 474, 476, 478 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V phải trả cho ông Dương Ngọc S khoản tiền nợ gốc đã vay là 10.000.000đ (Mười triệu đồng), lãi suất 1,1%/1 tháng từ 27/7/2015 đến 27/12/2015. Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V phải chịu lãi suất quá hạn từ ngày 28/12/2015 đến ngày xét xử vụ án. Về án phí: Buộc Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp giữa ông Dương Ngọc S và Công ty cổ phần Pin Ắc quy V là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, là hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có trụ sở Công ty tại xã C, thành phố V tỉnh P nên Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp.
Áp dụng pháp luật: Do giao dịch vay tiền của các bên được thực hiện trước ngày 1/1/2017 nên căn cứ vào Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì cần áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 đề giải quyết vụ án là phù hợp.
Vụ án thuộc trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên tòa do Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ.
Qu¸ trình gi¶i quyÕt vô ¸n Tßa ¸n ®· tiÕn hµnh c¸c thñ tôc tè tông theo ®óng quy ®Þnh cña ph¸p luËt. Đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Đào Hữu U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa lần 2. Căn cứ vào quy định t¹i ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227 Bé luËt tè tông d©n sù, Tòa án tiến hành ® a vụ án ra xÐt xö vắng mặt ông Uyên.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dương Ngọc S đối với Công ty cổ phần pin ắc quy V Phú. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Việc vay nợ giữa ông Dương Ngọc S và Công ty cổ phần pin ắc quy V Phú được xác định bằng hợp đồng vay vốn số 102/2015/HĐVV ngày 27/7/2015 và phiếu thu số 239 ngày 27/7/2015. Hợp đồng này được lập thành văn bản có chữ ký đóng dấu của ông Lê Văn Chính là đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần pin ắc quy V Phú (bên B) là bên vay vốn. Việc vay vốn giữa các bên được lập thành hợp đồng vay có sự thống nhất thỏa thuận của các bên theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với điều lệ của công ty. Nay ông S đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty cổ phần pin ắc quy V phải trả cho ông S số tiền nợ gốc là 10.000.000đ là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Phía bị đơn Công ty cổ phần pin ắc quy V cho rằng phiếu thu số 239 ngày 27/7/2015 không được đóng dấu đỏ của công ty; Số tiền ông Dương Ngọc S kiện Công ty cổ phần Pin Ắc quy V đều do ban lãnh đạo tiền nhiệm thu và chi. Ban lãnh đạo kế nhiệm không biết số tiền Ban lãnh đạo tiền nhiệm thu của ông Dương Ngọc S đã đi về đâu? nhưng hiện nay ban lãnh đạo tiền nhiệm lại đi vận động ông Dương Ngọc S khởi kiện công ty?
Đối với nhưng nội dung này. Hội đồng xét xử nhận định: Ý kiến của bị đơn là không phù hợp bởi lẽ ông S là người cho vay tiền không cần thiết phải biết những quy tắc tài chính của công ty, ông chỉ biết công ty có chủ trương huy động vốn ông cho vay, giữa công ty và ông có lập hợp đồng vay vốn và khi nộp tiền thì công ty có lập phiếu thu cho ông là đủ, trong phiếu thu có thể hiện nội dung huy động vốn. Đối với ý kiến Công ty cho rằng số tiền ông S kiện Công ty đều do ban lãnh đạo tiền nhiệm thu và chi. Ban lãnh đạo kế nhiệm không biết số tiền Ban lãnh đạo tiền nhiệm thu của ông S đã đi về đâu. Đối với vấn đề này nếu giả sử công ty quản lý tài chính không chặt chẽ để cá nhân lợi dụng thì trước hết công ty phải có trách nhiệm đối với người đã cho công ty vay vốn sau đó mới xem xét đến trách nhiệm của người gây thiệt hại trong công ty nhưng giả thiết trên bị loại trừ vì trong bảng kê số dư chi tiết tài khoản huy động vốn TK 3112 tại thời điểm 31/12/2015 và TK 3412 tại thời điểm 31/12/2016 cũng như báo cáo tài chính cho năm tài chính kết thúc các năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 mang tính pháp lý của Công ty cổ phần Pin Ắc quy V đã được công ty xác nhận đều thể hiện công ty có vay của ông S số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Đối với số tiền lãi vay thấy rằng:
Về lãi suất: Đây là hợp đồng vay vốn có kỳ hạn và có lãi xuất nên căn cứ vào các quy định tại Điều 471, Điều 474, Điều 476 và 478 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn là 1,1%/tháng là phù hợp.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của ông S đề nghị Hội đồng xét xử tính lãi từ ngày ký hợp đồng là 27/7/2015 đến ngày 27/12/2015 với mức lãi suất là 1,1%/1 tháng là 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng); từ ngày 28/12/2015 đến ngày 16/8/2019 với lãi suất là 7,5%/ 1 năm là 2.770.917đ (Hai triệu bảy trăm bảy mươi nghìn chín trăm mười bảy đồng). Tổng là: 3.320.917đ (Ba triệu ba trăm hai mươi nghìn chín trăm mười bảy đồng).
Tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đế ngày 16/8/2019 ông S đề nghị Công ty cổ phần pin ắc quy V thanh toán ông S là: 13.320.917đ (Mười ba triệu ba trăm hai mươi nghìn chín trăm mười bảy đồng) phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự: Công ty cổ phần Pin Ắc Quy V phải chịu án phí đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Ông Dương Ngọc S thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải hoàn trả lại tiền án phí cho ông S.
[4] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 305, Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Ngọc S đối với Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V .
[2] Buộc Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V phải trả cho ông Dương Ngọc S số tiền nợ gốc là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và tiền lãi tính đến ngày 16/8/2019 là 3.320.917đ (Ba triệu ba trăm hai mươi nghìn chín trăm mười bảy đồng). Tổng cộng 13.320.917đ (Mười ba triệu ba trăm hai mươi nghìn chín trăm mười bảy đồng).
[3] Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và anh Hoàng Phi có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V không thi hành thì hàng tháng, Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V còn phải chịu khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[4] Về án phí: Buộc Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy V phải chịu 667.000đ (Sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND TP+ Tỉnh; - Chi cục THADS TP Việt Trì; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Cao Vân |