vanban.org

Bản án 26/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim O. Buộc bà Đoàn Thị Thảo L trả cho bà Phan Thị Kim O số tiền 100.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng vợ chồng ông Sơn, bà Liên còn phải chịu tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phan Thị Kim Oanh - Đoàn Thị Thảo Liên"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim O. Buộc bà Đoàn Thị Thảo L trả cho bà Phan Thị Kim O số tiền 100.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2019/DS-ST
Ngày: 10 - 7 - 2019
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà H’Uyên A Yun.

- Ông Võ Ánh Sửu.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hà: Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2019/TLST - DS, ngày 01 tháng 4 năm 2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2019/QĐXXST-DS, ngày 24 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim O, sinh năm 1987, có mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn S và bà Đoàn Thị Thảo L, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 11, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình làm việc nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 15/9/2018 tôi có cho vợ chồng bà Đoàn Thị Thảo L và ông Huỳnh Văn S vay số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Khi vay hai bên có lập giấy mượn tiền và ông S, bà L hẹn đến ngày 15/12/2018 sẽ trả toàn bộ tiền gốc. Khi vay tiền giấy tờ vay chỉ ghi và ký tên bà Đoàn Thị Thảo L nhưng ông Sơn có biết và có nói tôi cho bà L vay khi nào từ quê và ông sẽ ký giấy nợ. Đến ngày 25/9/2018 tôi có cho vợ chồng bà Đoàn Thị Thảo L và ông Huỳnh Văn S vay số tiền 250.000.000 đồng. Khi vay hai bên có lập giấy mượn tiền viết tay và thỏa thuận đến ngày 25/12/2018 vợ chồng bà L, ông S sẽ trả đủ cho tôi. Chúng tôi không thỏa thuận lãi suất trong giấy mượn tiền, mục đích vay tiền của ông S, bà L là gì tôi cũng không biết. Hiện nay mặc dù đến hạn trả nợ nhưng ông Huỳnh Văn Sơn và bà Đoàn Thị Thảo L không trả cho bà O mặc dù bà O đã đòi nhiều lần. Vì vậy bà O khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà L trả số tiền 350.000.000 đồng và không yêu cầu vợ chồng bà L trả lãi suất.

Đối với ông Huỳnh Văn S và bà Đoàn Thị Thảo L sau khi Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án ông S, bà L đã bỏ đi khỏi địa phương. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông S, bà L nhiều lần nhưng ông bà không đến làm việc. Nguyên đơn bà Phan Thị Kim O có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 207, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim O, buộc bà Đoàn Thị Thảo L phải trả cho bà Oanh số tiền 100.000.000 đồng, buộc bà Đoàn Thị Thảo L và ông Huỳnh Văn S phải trả cho bà O số tiền 250.000.000 đồng. Về lãi suất bà Phan Thị Kim O không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Phan Thị Kim O và bị đơn ông Huỳnh Văn S, bà Đoàn Thị Thảo L (sau đây gọi tắt là: vợ chồng bà Liên) là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn vợ chồng bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Vào ngày 15/9/2018 bà Đoàn Thị Thảo L có vay bà Phan Thị Kim O số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Khi vay hai bên có lập giấy mượn tiền bà L hẹn đến ngày 15/12/2018 sẽ trả toàn bộ tiền gốc và trong giấy mượn tiền chỉ ghi tên bà Đoàn Thị Thảo Liên và chỉ có bà Đoàn Thị Thảo L ký tên. Đến ngày 25/9/2018 vợ chồng bà Liên tiếp tục vay bà O số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng. Khi vay hai bên có lập giấy vay tiền viết tay và thỏa thuận đến ngày 25/12/2018 vợ chồng bà L sẽ trả đủ. Khi vay hai bên không thỏa thuận lãi suất, mục đích vay tiền vợ chồng bà L là gì bà O cũng không biết. Hiện nay mặc dù đến hạn trả nợ nhưng vợ chồng bà L không trả cho bà O mặc dù bà O đã đòi nhiều lần. Vì vậy bà O khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà L trả số tiền 350.000.000 đồng và không yêu cầu vợ chồng bà L trả lãi suất.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc thiết lập hợp đồng vay tài sản giữa bà Phan Thị Kim O và vợ chồng bà L là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nên đây là giao dịch hợp pháp, hợp đồng vay tài sản có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, được quy định tại Điều 463, 464, 465, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nay, bà O đã thực hiện xong nghĩa vụ của bên cho vay tài sản, nhưng vợ chồng bà L đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản. Việc vợ chồng bà L không thực hiện nghĩa vụ của bên vay tài sản đối với bên cho vay tài sản, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà O, vì vậy bà O yêu cầu vợ chồng bà L trả số tiền 350.000.000 đồng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án vợ chồng bà L không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Vì vậy, ngày 22/4/2019 Tòa án đã ra quyết định trưng cầu giám định số 04/2019/QĐ-TCGĐ để xác định chữ ký, chữ viết họ tên trong giấy vay tiền đề ngày 15/9/2018 và giấy vay tiền đề ngày 25/9/2018 so với chữ ký, chữ viết họ tên trong tài liệu so sánh có phải do ông Huỳnh Văn S và bà Đoàn Thị Thảo L viết ra không. Sau khi trưng cầu giám định, đến ngày 13/5/2019, tại bản kết luận giám định số 39/PC09 Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đắk Lắk đã kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên của ông Huỳnh Văn S trong giấy mượn tiền đề ngày 25/9/2018 và chữ ký, chữ viết họ tên của bà Đoàn Thị Thảo L đề ngày 15/9/2018, ngày 25/9/2018 so với chữ ký, chữ viết họ tên trong tài liệu so sánh là do ông Huỳnh Văn Sơn và bà Đoàn Thị Thảo L viết ra.

Vì vậy, HĐXX xét thấy có căn cứ chấp nhận việc bà Phan Thị Kim O khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà L trả số tiền 350.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà Đoàn Thị Thảo L có vay và ký giấy vay tiền đề ngày 15/9/2018, giấy vay tiền đề ngày 25/9/2018 nên cần buộc bà L phải chịu trách nhiệm trả số tiền 100.000.000 đồng vay ngày 15/9/2018 và số tiền 250.000.000 đồng vay ngày 25/9/2018. Ông Huỳnh Văn S có vay và có ký giấy vay tiền đề ngày 25/9/2018 nên cần chấp nhận yêu cầu của bà O buộc ông S cùng chịu trách nhiệm với bà Liên trả số tiền 250.000.000 trong giấy vay tiền đề ngày 25/9/2018. Trong giấy vay tiền đề ngày 15/9/2018 chỉ viết tên bà L và chỉ có chữ ký của bà L, bà O khai ông S có biết và có gọi điện cho bà O nói cho bà L vay khi nào ông Sơn từ quê vào sẽ ký giấy nợ nhưng bà O không có căn cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà O về việc yêu cầu ông Sơn cùng chịu trách nhiệm với bà Liên trả cho bà O số tiền 100.000.000 đồng mà cần buộc một mình bà Liên trả cho bà O số tiền 100.000.000 đồng theo giấy vay tiền đề ngày 15/9/2018.

Về chi phí trưng cầu giám định: Do yêu cầu của bà Phan Thị Kim O được chấp nhận nên ông Huỳnh Văn S, bà Đoàn Thị Thảo L phải chịu toàn bộ chi phí giám định là 5.040.000 đồng. Do bà Phan Thị Kim O đã nộp tạm ứng số tiền này nên cần buộc ông Huỳnh Văn S, bà Đoàn Thị Thảo L phải trả lại cho bà Phan Thị Kim O số tiền tạm ứng chi phí giám định là 5.040.000 đồng.

Về lãi suất: Trong giấy mượn tiền đề ngày 15/9/2018 và ngày 25/9/2018 bà Phan Thị Kim O và bà Đoàn Thị Thảo L, ông Huỳnh Văn S không thỏa thuận lãi suất. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án bà Phan Thị Kim O không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề lãi suất nên HĐXX không đề cập, xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Phan Thị Kim O được chấp nhận nên cần buộc ông Huỳnh Văn S, bà Đoàn Thị Thảo L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền ông S, bà L phải trả cho bà Oanh theo quy định của pháp luật. Cần trả lại cho bà Phan Thị Kim O tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà O đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea H’leo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 463, 464, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 161; khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim O. Buộc bà Đoàn Thị Thảo L trả cho bà Phan Thị Kim O số tiền 100.000.000 đồng. Buộc ông Huỳnh Văn S và bà Đoàn Thị Thảo L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phan Thị Kim Oanh số tiền 250.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng vợ chồng ông Sơn, bà Liên còn phải chịu tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về chi phí trưng cầu giám định: Buộc ông Huỳnh Văn Sơn và bà Đoàn Thị Thảo Liên phải chịu toàn bộ chi phí giám định là 5.040.000 đồng. Do bà Phan Thị Kim O đã nộp tạm ứng số tiền chi phí giám định này nên buộc ông Huỳnh Văn S và bà Đoàn Thị Thảo L phải trả lại cho bà Phan Thị Kim O số tiền tạm ứng chi phí giám định là 5.040.000 (Năm triệu không trăm bốn mươi nghìn) đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Huỳnh Văn S và bà Đoàn Thị Thảo L phải chịu 12.500.000 đồng, buộc bà Đoàn Thị Thảo L phải chịu 5.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Phan Thị Kim O số tiền 8.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà O đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea H’leo theo biên lai số AA/2017/0010840, ngày 22/3/2019.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Phan Thị Kim O có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Huỳnh Văn S và bà Đoàn Thị Thảo L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ