- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2018/HS-ST Ngày 06/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Minh
2. Bà Nguyễn Thị Quy
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tØnh H¶i Dư¬ng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Nhuần - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Tiến D, sinh năm 1977 tại Kim Thành, Hải Dương.
Nơi cư trú: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh Hvà bà Bùi Thị T; có vợ là Bùi Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/4/2018, tạm giam từ ngày 19/4/2018 tại Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1956; Nơi cư trú: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
2. Anh Vũ Văn S, sinh năm 1998; Nơi cư trú: thôn D, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tiến D là đối tượng nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 17/4/2018, D một mình đi xe khách từ nhà xuống Hải Phòng để mua ma túy về mục đích để sử dụng. Khi đến khu vực đường tàu thuộc quận H, thành phố Hải Phòng, D xuống xe đi bộ thì thấy một người đàn ông lạ mặt đang đi một mình lang thang. Do bản thân D là người nghiện ma túy, nên D phát hiện có thể người đàn ông này bán ma túy. D lại gần và hỏi: “ có bán hàng đá không? ” mục đích là hỏi người đàn ông này có bán ma túy đá không. Người đàn ông bảo “ Có, mua bao nhiêu?”. D bảo “ ba trăm ngàn”, rồi đưa cho người đàn ông này 300.000đồng. Người đàn ông cầm tiền và đưa cho D 02 gói nilon bên trong đựng ma túy đá. D cầm 02 gói ma túy này đút vào túi quần trước bên trái đang mặc rồi bắt xe khách đi về nhà. Đến khu vực lối rẽ vào nhà nghỉ T thuộc địa phận thôn P, xã K, huyện K thì D xuống xe đi bộ về nhà, đến gần cổng nhà nghỉ T thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.
Tại bản Kết luận giám định số 279/KLGĐ - PC54 ngày 20/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn ( dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong bì thư ghi thu của Nguyễn Tiến D gửi đến giám định có tổng khối lượng 0,227 gam là loại Methamphetamin, Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013.
Tại Bản cáo trạng số 20/CT-VKSKT ngày 14/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Tiến D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, theo quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 01 Điều 249, điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Ngoài ra, quan điểm của Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết về vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan Điều tra Công an huyện Kim Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 16 giờ ngày 17/4/2018, tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Tiến D có hành vi tàng trữ trái phép trong túi quần phía trước bên trái D đang mặc 0,227 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng trái phép thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được chất ma túy rất độc hại, cấm tàng trữ trái phép, nhưng vì mục đích để sử dụng trái phép bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[ 4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Song, dù có chiếu cố đến đâu vẫn phải buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân lương thiện có ích cho xã hội.
[ 5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 của Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì thấy trước khi bị cáo phạm tội, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, bản thân bị cáo là con nghiện đang ở cùng với gia đình điều kiện kinh tế khó khăn. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo cũng là phù hợp.
[ 6] Về vật chứng: Gồm có 01 phong bì thư số 279/KLGĐ-PC54 được niêm phong dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hải Dương bên trong đựng số ma túy được hoàn lại sau khi gửi đi giám định, đây là vật chứng của vụ án, là vật cấm lưu hành nên cần phải tịch thu cho tiêu hủy.
[ 7 ] Về án phí: Bị cáo bị kết luận có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 01 Điều 249, điểm s khoản 01 Điều 51, ®iÓm c khoản 01 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 02 Điều 106, khoản 02 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/4/2018.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì thư số 279/KLGĐ - PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương( Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/5/2018)
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kim Thành; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan Điều tra Công an huyện Kim Thành; - Cơ quan THA Hình sự huyện Kim Thành; - Chi cục THADS huyện Kim Thành; - Bị cáo; - Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |