- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Lê Phạm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2018/HS-ST Ngày: 05-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thanh Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Hải Đường;
Bà Nguyễn Thị Kim Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nam - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2018, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Phạm T, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1988; tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT: Ấp NB, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S và bà Phạm Thị B; có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-3-2018 đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Phạm T là người nghiện ma túy, nên vào khoảng 20 giờ ngày 16-3-2018 T mua của một người tên R (chưa xác định nhân thân, địa chỉ) 01 bịch ma túy đá với số tiền 500.000 đồng và đem cất giấu trong phòng ngủ tại nhà thuộc ấp P, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ ngày 17-3-2018, T bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thu giữ: 01 gói nylon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) chai nhựa màu xanh bên trong chứa 340ml chất lỏng màu vàng đậm, được lấy ra từ thùng rác nhà bếp là chất lỏng có chứa chất ma túy do T và R cùng sử dụng vào ngày 15/3/2018 còn lại. Quá trình điều tra, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận giám định số 203/KL-KTHS ngày 21 tháng 3 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:
+ Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon màu trắng (kí hiệu M1) là loại Methamphetamine, khối lượng 1,4576gam.
+ Mẫu chất lỏng màu vàng đậm bên trong một chai nhựa màu xanh (kí hiệu M2) là loại Ketamine; không giám định hàm lượng và khối lượng.
- Kết luận giám định số 1787/C54B ngày 04/5/2018 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chất lỏng trong chai nhựa nhãn hiệu 7Up được niêm phong gửi giám định là ma túy, có thể tích là 290ml, loại Ketamine. Khối lượng Ketamine trong 290ml dung dịch là 1,613gam. Khối lượng Ketamine trong 340ml dung dịch (theo kết luận giám định số 203 ngày 21/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh) là 1,8911gam.
Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch người tên R nên không xử lý trong vụ án này.
Vật chứng đã thu giữ, ngoài bịch ma túy thu giữ trong quá trình bắt quả tang, Cơ quan điều tra còn thu giữ một số tang vật khác có liên quan trong vụ án.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-DMC ngày 23/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Lê Phạm T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Phạm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm i, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Phạm T từ 24 đến 30 tháng tù;
Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên ti ̣ch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bịch nylon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, ký hiệu số 203/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N và trợ lý Lê Đức T và có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh. (Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon màu trắng (kí hiệu M1) là loại Methamphetamine, khối lượng 1,4576gam).
- 01 (một) chai nhựa màu xanh, bên trong có chứa nước (là chất Ketamine).
- 01 (một) đoạn ống nhựa cắt nhọn một đầu.
- 01 (một) dụng cụ đèn khò.
Bị cáo Lê Phạm T nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, kính mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vào khoảng 20 giờ ngày 17-3-2018 tại nhà của bị cáo Lê Phạm T thuộc ấp P, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra và bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ 01 gói nylon và 01 chai nhựa bên trong có chứa chất ma túy. Qua giám định chất ma túy bị thu giữ trong gói nylon có tên gọi là Methamphetamine với trọng lượng 1,4576gam; chất ma túy trong chai nhựa có tên gọi là Ketamin với trọng lượng là 1,8911gam. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là rất nghiêm tro ̣ng , xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về các chất gây nghiện; xâm phạm đến trật tự xã hội, an toàn xã hội. Ma tuý là chất gây nghiện mạnh mà Nhà nước đã tuyệt đối cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ dưới mọi hình thức. Do đó cần có mức hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các Điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo được hưởng khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Đối với người đàn ông tên R (không rõ lai lịch), do chưa xác định được đối tượng, khi nào làm việc được cơ quan điều tra sẽ xử lý sau.
Biện pháp tư pháp: Các vật chứng cấm lưu hành như các chất ma túy thu giữ; các vật chứng không có giá trị sử dụng thì tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí sơ thẩm trong vụ án: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Lê Phạm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm i, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Phạm T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-3-2018.
2/ Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên ti ̣ch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bịch nylon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, ký hiệu số 203/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N và trợ lý Lê Đức T và có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh. (Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon màu trắng (kí hiệu M1) là loại Methamphetamine, khối lượng 1,4576gam).
- 01 (một) chai nhựa màu xanh, bên trong có chứa nước (là chất Ketamine).
- 01 (một) đoạn ống nhựa cắt nhọn một đầu.
- 01 (một) dụng cụ đèn khò.
(Các vật chứng và tiền trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyê ̣n Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý).
3/ Án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Lê Phạm T phải chịu 200.000 đồng.
4/ Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Huyện DMC; - CC THA Huyện DMC; - Bị cáo; - Cơ quan điều tra Công an Huyện DMC; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an Huyện DMC; - Lưu HS; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Mai Thanh Tú |