vanban.org

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trường G.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung đã trưởng thành tên Nguyễn Mỹ X, sinh ngày 29/5/1995 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/5/1997. Hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H trình bày tài sản chung và nợ chung giữa Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trường G tự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trường G.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 26/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 05/4/2018
V/v ly hôn giữa bà H và ông G”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Phan Hoàng Mai

2.Bà Lê Thị Thanh Vân

-Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Thái – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

-Kiểm sát viên-Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc.

Ngày 05 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 568/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2017, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 2 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2018, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H (tự là Đ), sinh năm 1975. Có mặt.

Địa chỉ: khóm PQ, phường ML, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1968. Vắng mặt.

Địa chỉ: khóm PQ, phường ML, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn Bà Nguyễn Thị H (tự là Đ) trình bày và có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Giữa Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trường G do quen biết, tự tìm hiểu nhau nên đã tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1994, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn, quyển số 01/1997, vào ngày 10/7/1997 tại Ủy ban nhân dân phường MP, thị xã Long Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên), tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẩn do không tôn trọng nhau, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được nên bà đã nộp đơn xin ly hôn và được Tòa án thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án có hòa giải động viên để ông bà hàn gắn tình cảm vợ chồng, chăm lo gia đình và tương lai của con nên bà đã quyết định rút đơn đơn khởi kiện xin ly hôn và được Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đình chỉ giải quyết vụ án theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 23/2015/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2015, nhưng khi vợ chồng về sống chung lại với nhau hạnh phúc được khoảng vài tháng thì ông Giang vẫn không có thay đổi nên cả hai đã ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trường G.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung đã trưởng thành tên Nguyễn Mỹ X, sinh ngày 29/5/1995 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/5/1997. Hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động.

Về tài sản chung và nợ chung: Giữa Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trường G tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Trường G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Nguyễn Trường G không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

- Tại phiên tòa:

+ Bà Nguyễn Thị H trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Trường G đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Nguyễn Trường G vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trường G.

Về hôn nhân: Giữa Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trường G là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xem xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẩn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Mặt khác, sau khi Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án, bà H và ông G cũng không tạo điều kiện để cả hai có thể chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, mỗi người chỉ lo cho bản thân. Tòa án đã cố gắng kéo dài thời gian, tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn nhưng vẫn không có cơ hội đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của Bà Nguyễn Thị H là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Trường G.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung đã trưởng thành tên Nguyễn Mỹ X, sinh ngày 29/5/1995 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/5/1997. Hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H trình bày là giữa bà và ông Nguyễn Trường G tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Nguyễn Trường Gđể đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trường G.

2.Về nuôi con chung: Có 02 con chung đã trưởng thành tên Nguyễn Mỹ X, sinh ngày 29/5/1995 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/5/1997. Hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H trình bày tài sản chung và nợ chung giữa Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Trường G tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

4.Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0018718 ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ.

5.Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Nguyễn Trường G vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ